Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



 


 

MỤC LỤC

 

 

Lời Nói Đầu Của Dịch Giả


 Trong khế Kinh Đức Phật nói chỉ vì một đại sự nhơn duyên mà Đức Phật xuất hiện thế gian đó là muốn mọi người mọi chúng sanh đều thành Phật đồng như đức Phật.

 

Lời đức Phật thật đơn giản mà ý nghĩa thật tột cùng sâu rộng. Trong lời nói đó có nghĩa cứu cánh bình đẳng, Phật và chúng sanh không sai khác, còn có nghĩa là hiện tại mỗi chúng sanh đều có đủ tánh đức đồng như Phật. Cũng có nghĩa là nếu chúng sanh có lòng tin thanh tịnh, y giáo phụng hành thì quyết định sẽ thành Phật như trong đại thừa kinh thường có câu chính đức Phật dạy : “Các người là Phật sẽ thành, còn chư Phật là Phật đã thành”

 

Vì thấy rõ tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật nên đức Phật ra đời, dùng nhân khẩu truyền cho đời những phương cách, những pháp môn làm điều kiện cụ thể để bước lên đường Phật, để rồi đến quả Phật, thành Phật. Những phương pháp cụ thể đó là Phật Pháp.

 

Vì các chúng sanh căn trí không đồng nhau, tánh không đồng nhau, ý thức cùng sự mong muốn v.v… cũng không đồng nhau, nên đức Phật phải theo cớ mà dạy rất nhiều pháp môn, nhiều đến phải dùng từ “Vô lượng pháp môn”.

 

Dầu là vô lượng, nhưng nếu mỗi chúng sanh y theo một pháp môn, đúng với tâm tánh thích nghi của chính mình, rồi quyết tâm học hiểu, hành trì thật đúng, thật bền, thật sâu, thì nhứt định đạt thành đạo quả.

 

Như trên nói : mọi chúng sanh đều có đủ đức tánh đồng như Phật, chỉ vì điên đảo vọng tưởng, hư vọng phân biệt, dục tham phiền não che chướng, nên những tánh đức trong sáng sẵn có ấy không hiện thật.

 

Tất cả những pháp môn của Phật dạy, những phương pháp mà lúc Đức Phật hành đạo đã thật hành đã hiểu rõ đã kinh nghiệm và do đó đã đạt kết quả cứu cánh, nay đem truyền dạy lại cho mọi người, đều nhằm vào việc phải trừ những đảo tưởng phân biệt, những dục tham phiền não, để cho tánh đức sẵn có phát hiện tác dụng. Vì đó là sẵn có nên đức Phật tự nói : “Ta không có một chính pháp cụ thể thành vô thượng Bồ đề cả”.

 

Phật pháp là phương tiện để đưa người vào đạo, là phương thuốc chữa bệnh hư vọng phiền não, là cách thức rửa lau những đảo tưởng như lau bụi trên mặt gương, mà tuyệt đối không có một chút gì là có, là được, vì đạo là tánh đức sẵn đủ vậy. Phật pháp vô lượng môn cô đọng lại trong ba môn vô lậu : giới, tịnh và huệ, vô lậu giới để phòng ngừa để ngăn đảo vọng, vô lậu tịnh để chặn đứng để đối trừ đảo vọng, vô lậu huệ dứt sạch đảo vọng. Và tùy theo giai đoạn mà đảo vọng từng phần được dứt trừ, thì tánh đức sẵn có của hành giả cũng từng phần thể hiện, đó là các bực Hiền, các bực Thánh, các bực Bồ Tát. Cho đến lúc tất cả đảo vọng sạch trọn vẹn thì tánh đức thể hiện trọn vẹn, đó là quả Phật là thành Phật.

 

– Trong bộ kinh Đại Bảo Tích nầy, nội dung không ngoài những điều đã nêu ở trên, đều là rất nhiều, rất rộng.

 

– Trong thập niên năm mươi, tôi được đọc tụng bộ kinh nầy từ bổn phương sách của bắc bộ Việt Nam ta, bản hán văn, tôi đã có hoài bão phiên dịch ra Việt văn để được thông dụng theo thời đại.

 

– Mãi đến năm 1979 mới hoàn thành bộ Việt văn và đến nay ngót mười năm mới có đủ duyên để đem ra ấn hành lần đầu tiên. Mong rằng sự ấn loát và lưu hành đều tốt đẹp như ý muốn.

 

Cầu nguyện tất cả mọi người, mọi thí chủ, hoặc thiện chí, hoặc công đức, hoặc tịnh tai đều tròn đầy phước lạc.

 

Viết tại chùa Vạn Đức

Mùa an cư ngày 12 – 07 – 1987. PL.2531

TỲ KHEO THÍCH TRÍ TỊNH

 

 

PHỤ CHÚ:

 

Bộ Đại Bửu Tích kinh này vào những năm 1987-1988-1989 được ấn hành lần đầu tiên. Vì sự sơ sót của ban ấn loát nên có rất nhiều sai sót chẳng những chư độc giả không hài lòng mà mỗi khi nhớ đến lòng tôi luôn ray rứt.

 

May mắn thay vào đầu năm nay có cư sĩ Bảo Đăng phát tâm Bồ đề khởi sướng tái bản, đem nguyên bản thảo chụp ảnh giao cho ban ấn loát để mong khỏi sai sót trong lần in lại này.

 

Tôi mò mẫm với đôi mắt đã bệnh lòa chép lại lời nói đầu và thêm phần phụ chú đây trong niềm vui mừng vô hạn với lần tái bản đúng y nguyên bản thảo mà tôi đã mấy năm mong muốn.

 

Cầu nguyện cho người phát khởi cũng như toàn ban ấn loát, tất cả thí chủ được vô lượng công đức Pháp Thí.

 

Chùa Vạn Đức, ngày rằm tháng sáu Quý Dậu 1993


HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH




KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH

 

Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh




THỨ 1. PHÁP HỘI TAM TỤ LUẬT NGHI

Hán dịch: Nhà Đường, Tam Tạng Pháp Sư Bồ đề Lưu Chi



QUYỂN 1

QUYỂN 2

QUYỂN 3



THỨ 2. PHÁP HỘI VÔ BIÊN TRANG NGHIÊM

Hán dịch: Nhà Đường, Tam Tạng Pháp Sư Bồ đề Lưu Chi

 

1. PHẨM VÔ THƯỢNG ĐÀ LA NI

2. PHẨM XUẤT LY ĐÀ LA NI

3. PHẨM THANH TỊNH ĐÀ LA NI


QUYỂN 4

QUYỂN 5

QUYỂN 6

QUYỂN 7



THỨ 3. PHÁP HỘI MẬT TÍCH KIM CANG LỰC SĨ

Hán dịch: Tây Tấn, Nguyệt Thị, Pháp Sư Trúc Pháp Hộ


QUYỂN 8

QUYỂN 9

QUYỂN 10

QUYỂN 11

QUYỂN 12

QUYỂN 13

QUYỂN 14



THỨ 4. PHÁP HỘI TỊNH CƯ THIÊN TỬ

Hán dịch: Tây Tấn, Nguyệt Thị, Pháp Sư Trúc Pháp Hộ


QUYỂN 15

QUYỂN 16



THỨ 5. PHÁP HỘI VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI

Hán dịch: Tào Nguỵ, Pháp Sư Khương Tăng Khải


QUYỂN 17

QUYỂN 18



THỨ 6. PHÁP HỘI BẤT ĐỘNG NHƯ LAI THỨ SÁU

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


1. PHẨM THỌ KÝ TRANG NGHIÊM

2. PHẨM PHẬT SÁT TRANG NGHIÊM

3. PHẨM THANH VĂN CHÚNG

4. PHẨM BỒ TÁT CHÚNG

5. PHẨM NIẾT BÀN CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM

6. PHẨM NHÂN DUYÊN VÃNG SANH


      

QUYỂN 19

QUYỂN 20


     

THỨ 7. PHÁP HỘI MẶC GIÁP TRANG NGHIÊM 

 Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi



QUYỂN 21

QUYỂN 22

QUYỂN 23

QUYỂN 24

QUYỂN 25



THỨ 8. PHÁP HỘI PHÁP GIỚI THỂ TÁNH VÔ PHÂN BIỆT

 Hán Dịch: Nhà Lương, Pháp Sư Mạn Đà La



QUYỂN 26

QUYỂN 27



THỨ 9. PHÁP HỘI ĐẠI THỪA THẬP PHÁP

Hán Dịch: Nhà Nguyên, Pháp Sư Phật Đà Phiến Đa



QUYỂN 28



THỨ 10. PHÁP HỘI VĂN THÙ SƯ LỢI PHỔ MÔN

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi





THỨ 11. PHÁP HỘI XUẤT HIỆN QUANG MINH

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi









THỨ 12. PHÁP HỘI BỒ TÁT TẠNG THỨ MƯỜI HAI

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Huyền Trang



1. PHẨM KHAI HOÁ TRƯỞNG GIẢ

2. PHẨM KIM TỲ LA THIÊN THỌ KÝ 

3. PHẨM THÍ NGHIỆM BỒ TÁT

4. PHẨM NHƯ LAI BẤT TƯ NGHÌ TÁNH 

5. PHẨM TỨ VÔ LƯỢNG

6. PHẨM ĐÀN NA BA LA MẬT ĐA

7. PHẨM THI LA BA LA MẬT

8. PHẨM SẰN ĐỀ BA LA MẬT

9. PHẨM TỲ LÊ GIA BA LA MẬT

10. PHẨM TĨNH LỰ BA LA MẬT

11. PHẨM BÁT NHÃ BA LA MẬT

12. PHẨM ĐẠI TỰ TẠI THIÊN THỌ KÝ



QUYỂN 35

QUYỂN 36

QUYỂN 37

QUYỂN 38

QUYỂN 39

QUYỂN 40

QUYỂN 41

QUYỂN 42

QUYỂN 43

QUYỂN 44

QUYỂN 45

QUYỂN 46

QUYỂN 47

QUYỂN 48

QUYỂN 49

QUYỂN 50

QUYỂN 51

QUYỂN 52

 


THỨ 13. PHÁP HỘI PHẬT THUYẾT NHÂN XỬ THAI

Hán Dịch: Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


THỨ 14. PHÁP HỘI PHẬT THUYẾT NHẬP THAI TẠNG

Hán Dịch: Pháp Sư Nghĩa Tịnh


QUYỂN 53

QUYỂN 54



THỨ 15. PHÁP HỘI VĂN THÙ SƯ LỢI THỌ KÝ

Hán Dịch: Thiết Xoa Nan Đà



QUYỂN 55

QUYỂN 56

QUYỂN 57



THỨ 16. PHÁP HỘI BỒ TÁT KIẾN THIỆT

Hán Dịch: Cao Tế, Pháp Sư Nan Liên Đề Gia Xá



1. PHẨM TỰ

2. PHẨM TỊNH PHẠN VƯƠNG ĐẾN PHẬT

3. PHẨM A TU LA VƯƠNG THỌ KÝ

4. PHẨM BỔN SỰ

5. PHẨM CA LÂU LA VƯƠNG THỌ KÝ

6.  PHẨM LONG NỮ THỌ KÝ

7. PHẨM LONG VƯƠNG THỌ KÝ

8. PHẨM CƯU BÀN TRÀ THỌ KÝ

9. PHẨM CÀN THÁT BÀ THỌ KÝ

10. PHẨM DẠ XOA THỌ KÝ

11. PHẨM KHẨN NA LA VƯƠNG THỌ KÝ

12. PHẨM HƯ KHÔNG HÀNH THIÊN THỌ KÝ

13. PHẨM TỨ THIÊN VƯƠNG THỌ KÝ

14. PHẨM TAM THẬP TAM THIÊN THỌ KÝ

15. PHẨM DẠ MA THIÊN THỌ KÝ

16. PHẨM ĐÂU XUẤT ĐÀ THIÊN THỌ KÝ

17. PHẨM HOÁ LẠC THIÊN THỌ KÝ

18. PHẨM THA HOÁ TỰ TẠI THIÊN THỌ KÝ

19. PHẨM CHƯ PHẠM THIÊN THỌ KÝ

20. PHẨM QUANG ÂM THIÊN THỌ KÝ

21. PHẨM BIẾN TỊNH THIÊN THỌ KÝ

22. PHẨM QUẢNG QUẢ THIÊN THỌ KÝ

23. PHẨM TỊNH CƯ THIÊN TỬ TÁN KỆ

24. PHẨM GIÁ LA CA BA LỢI BÀ LA XÀ CA NGOẠI ĐẠO

25. PHẨM LỤC GIỚI SAI BIỆT

26. PHẨM TỨ CHUYỂN LUÂN VƯƠNG

  

QUYỂN 58

QUYỂN 59

QUYỂN 60

QUYỂN 61

QUYỂN 62

QUYỂN 63

QUYỂN 64

QUYỂN 65

QUYỂN 66

QUYỂN 67

QUYỂN 68

QUYỂN 69

QUYỂN 70



THỨ 17. PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA

 Hán dịch : Dao Tần, Pháp Sư Cưu Ma La Thập



1. PHẨM BỒ TÁT HẠNH

2. PHẨM ĐA VĂN

3. PHẨM BẤT THỐI

4. PHẨM CỤ THIỆN CĂN

5. PHẨM THẦN THÔNG LỰC

6. PHẨM ĐẠI BI

7. PHẨM ĐÁP NẠN

8. PHẨM PHÚ LÂU NA



QUYỂN 71

QUYỂN 72

QUYỂN 73

QUYỂN 74



THỨ 18. PHÁP HỘI HỘ QUỐC BỒ TÁT

Hán dịch: Tùy, Bác Thiên Trúc, Pháp Sư Xà Na Quật Đà


QUYỂN 75

QUYỂN 76

QUYỂN 77



THỨ 19. PHÁP HỘI ÚC GIÀ TRƯỞNG GIẢ

 Hán dịch: Tào Nguy, Pháp Sư Khương Tăng Khải


QUYỂN 78


THỨ 20. PHÁP HỘI VÔ TẬN PHỤC TẠNG

Hán dịch: Đường, Pháp Sư Bồ đề Lưu Chí


QUYỂN 79



THỨ 21. PHÁP HỘI THỌ KÝ ẢO SƯ BẠT ĐÀ LA

Hán dịch: Đường, Pháp Sư Bồ đề Lưu Chí


QUYỂN 80



THỨ 22. PHÁP HỘI ĐẠI THẦN BIẾN

Hán dịch: Đường, Pháp Sư Bồ đề Lưu Chí


QUYỂN 81

QUYỂN 82



THỨ 23. PHÁP HỘI MA HA CA DIẾP

Hán dịch: Nguyên Nguỵ, Nước Ưu Thiền Ni, Vương Tử Nguyệt Bà Thủ Na


QUYỂN 83

QUYỂN 84



THỨ 24. PHÁP HỘI ƯU BA LY

Hán dịch: Đường, Pháp sư Bồ Đề Lưu Chi



QUYỂN 85



THỨ 25. PHÁP HỘI PHÁT THẮNG CHÍ NGUYỆN

Hán dịch: Nhà Đưòng, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi



QUYỂN 86

QUYỂN 87



THỨ 26. PHÁP HỘI THIỆN TÝ BỒ TÁT 

Hán Dịch: Dao Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập


QUYỂN 88


 

THỨ 27. PHÁP HỘI THIỆN THUẬN BỒ TÁT

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


THỨ 28. PHÁP HỘI DŨNG MÃNH THỌ TRƯỞNG GIẢ

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi



QUYỂN 89



THỨ 29. PHÁP HỘI ƯU ĐÀ DIÊN VƯƠNG

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


 

QUYỂN 90



THỨ 30. PHÁP HỘI DIỆU HUỆ ĐỒNG NỮ

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


THỨ 31. PHÁP HỘI HẰNG HÀ THƯỢNG ƯU BÀ DI

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


QUYỂN 91



THỨ 32. PHÁP HỘI VÔ ÚY ĐỨC BỒ TÁT

Hán Dịch: Nguyên Ngụy, Pháp Sư Phật Đà Phiến Đa


QUYỂN 92



THỨ 33. PHÁP HỘI VÔ CẤU THÍ BỒ TÁT ỨNG HIỆN

Hán Dịch: Tây Tấn, Thanh Tín Sĩ Nhiếp Đạo Chân


 

1. PHẨM TỰ 

2. PHẨM THANH VĂN

3. PHẨM BỒ TÁT 

4. PHẨM BỒ TÁT HẠNH 

5. PHẨM THỌ KÝ 



THƯ 34. PHÁP HỘI CÔNG ĐỨC BỬU HOA PHU BỒ TÁT

Hán dịch : Đường Phap Sư Bồ đề Lưu Chi



QUYỂN 93

QUYỂN 94



THỨ 35. PHÁP HỘI THIỆN ĐỨC THIÊN TỬ

Hán dịch : Nhà Đường Pháp Sư bồ Đề Lưu Chi


QUYỂN 95



THỨ 36. PHÁP HỘI THIỆN TRỤ Ý THIÊN TỬ

Hán dịch : Pháp sư Đạt ma cấp đa



1. PHẨM DUYÊN KHỞI

2. PHẨM KHAI TRIỆT NGHĨA

3. PHẨM VĂN THÙ THẦN BIẾN

4. PHẨM PHÁ MA 

5. PHẨM BỒ TÁT THÂN HÀNH

6. PHẨM PHÁ BỒ TÁT TƯỚNG

7. PHẨM PHÁ NHỊ THỪA TƯỚNG

8. PHẨM PHÁ PHÀM PHU TƯỚNG

9. PHẨM THẦN THÔNG CHỨNG THUYẾT

10. PHẨM XƯNG TÁN PHÓ PHÁP


QUYỂN 96

QUYỂN 97

QUYỂN 98



THỨ 37. PHÁP HỘI A XÀ THẾ VƯƠNG TỬ

Hán dịch : Nhà Đường Pháp Sư Bồ đề Lưu Chi


THỨ 38. PHÁP HỘI ĐẠI THỪA PHƯƠNG TIỆN

Hán dịch : Đông Tấn Thiên Trúc cư sĩ Trúc Nan Đề


QUYỂN 99

QUYỂN 100



THỨ 39. PHÁP HỘI HIỀN HỘ TRƯỞNG GIẢ

Hán dịch :Tuỳ, Bắc Thiên Trúc, Pháp Sư Xà Na Quật Đa


THỨ 40. PHÁP HỘI TỊNH TÍN ĐỒNG NỮ

Hán dịch : Nhà Đường Pháp sư Bồ Đề Lưu Chi


QUYỂN 101

QUYỂN 102



THỨ 41. PHÁP HỘI DI LẶC BỒ TÁT VẤN BÁT PHÁP

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi

 

THỨ 42. PHÁP HỘI DI LẶC BỒ TÁT SỞ VẤN

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


QUYỂN 103



THỨ 43. PHÁP HỘI PHỔ MINH BỒ TÁT

Hán Dịch: Nhà Đường, Ma Ha Pháp Sư


QUYỂN 104



THỨ 44. PHÁP HỘI BỬU LƯƠNG TỤ

Hán Dịch: Bắc Lương, Sa Môn Thích Đạo Củng

 

1. PHẨM SA MÔN

2. PHẨM TỲ KHEO

3. PHẨM CHIÊN ĐÀ LA SA MÔN

4. PHẨM DOANH SỰ TỲ KHEO

5. PHẨM A LAN NHÃ TỲ KHEO

6. PHẨM TỲ KHEO KHẤT THỰC

7. PHẨM PHẤT TẢO Y TỲ KHEO


QUYỂN 105



THỨ 45. PHÁP HỘI VÔ TẬN HUỆ BỒ TÁT

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi

 

THỨ 46. PHÁP HỘI VĂN THÙ THUYẾT BÁT NHÃ

Hán Dịch: Nhà Lương, Pháp Sư Mạn Đà La Tiên

 

THỨ 47. PHÁP HỘI BỬU KẾ BỒ TÁT

Hán Dịch: Tây Tấn, Tam Tạng Trúc Pháp Hộ


QUYỂN 106

QUYỂN 107

QUYỂN 108

QUYỂN 109



THỨ 48. PHÁP HỘI THẮNG MAN PHU NHƠN

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


QUYỂN 11O



THỨ 49. PHÁP HỘI QUẢNG BÁC TIÊN NHƠN

Hán Dịch: Nhà Đường, Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi


QUYỂN 111

 

THỨ 50.  PHÁP HỘI NHẬP PHẬT CẢNH GIỚI

TRÍ QUANG MINH TRANG NGHIÊM

Hán Dịch: Tây Tấn Lưu Tống Sa Môn Pháp Hộ và Duy Tịnh


QUYỂN 112

QUYỂN 113



THỨ 51. PHÁP HỘI TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT

Hán Dịch: Bắc Lương, Tạm Tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 114

QUYỂN 115

QUYỂN 116

QUYỂN 117



THỨ 52. PHÁP HỘI BỬU NỮ

Hán dịch: Tam Tạng Đàm Vô Sấm

 

QUYỂN 118

QUYỂN 119



THỨ 53. PHÁP HỘI BẤT THUẤN BỒ TÁT

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 120



THỨ 54. PHÁP HỘI HẢI HUỆ BỒ TÁT

Hán dịch : Tam Tạng Đàm Vô Sấm 


QUYỂN 121

QUYỂN 122

QUYỂN 123

QUYỂN 124



THỨ 55. PHÁP HỘI HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT

Hán dịch: Tam tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 125

QUYỂN 126

QUYỂN 127

QUYỂN 128

QUYỂN 129



THỨ 56. PHÁP HỘI VÔ NGÔN BỒ TÁT

Hán dịch: Tam tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 130

QUYỂN 131



THỨ 57. PHÁP HỘI BẤT KHẢ THUYẾT BỒ TÁT

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 132

QUYỂN 133



THỨ 58. PHÁP HỘI BỬU TRÀNG

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 134

QUYỂN 135

QUYỂN 136

QUYỂN 137



THỨ 59. PHÁP HỘI HƯ KHÔNG MỤC

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 138

QUYỂN 139

QUYỂN 140

QUYỂN 141

QUYỂN 142



THỨ 60. PHÁP HỘI NHỰT MẬT BỒ TÁT

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm


QUYỂN 143

QUYỂN 144

QUYỂN 145



THỨ 61. PHÁP HỘI VÔ TẬN Ý BỒ TÁT

Hán dịch: Lưu Tống, Sa Môn Trí Nghiêm và Bửu Vân

 

QUYỂN 146

QUYỂN 147

QUYỂN 148

QUYỂN 149

QUYỂN 150



THỨ 62. PHÁP HỘI QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT

Hán dịch: Tam Tạng Cương Lương Gia Xá


QUYỂN 151



TRỌN BỘ 62 PHÁP HỘI


 

Lời Ghi Nhận Sau Kinh 

Của Người Dịch


 

Tôi từ bé đôi mắt đã bịnh yếu lại thêm càng ngày càng cận. Lúc tôi cầm viết ghi mấy dòng nầy là lúc đôi mắt đã bịnh nhiều suốt hơn một năm, kể từ đầu tháng Tám năm ngoái. Năm Mậu Thìn (1988) , nay nhìn chữ chỉ thấy lờ mờ.

Hồi nhớ lại từ ngày vào đạo, theo nghĩa thế tục, đến nay đã hơn nữa thế kỷ, luôn luôn thấy việc học kinh, tụng kinh, niệm Phật, dạy kinh, giảng kinh và phiên dịch kinh từ Hán tạng ra Việt văn làm chánh hạnh của đời mình.

Năm 1947, bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa là bộ kinh đầu tiên được ấn hành, kế đến là Phổ Hiền Hạnh Nguyện v.v… Đến năm 1953 bộ Đường về Cực Lạc hai tập được ra đời, do bộ này mà hai năm sau, năm 1955, hội Cực Lạc Liên Hữu được thành lập, lấy chùa Vạn Đức ở Thủ Đức làm trung tâm và ngày mùng Sáu tháng Tám, ngày khánh lễ Tổ Huệ Viễn là ngày đại hội thường niên. Nhớ lại biết bao đạo tình đạo nghĩa của bao nhiêu Hoà Thượng, Thượng Tọa, Ni Sư, Đại Đức, Sư Cô, bao nhiêu Tăng Ni cùng các Đạo hữu cư sĩ từ các tỉnh miền Nam nước Việt, có các vị từ Nam Vang (Cambodge) cũng về dự đại hội, tiếng niệm hồng danh đức Phật, sổ ghi công đức niệm Phật được lan rộng gần xa…

Tôi ghi vài dòng trên đây là có ý ghi lại ảnh hưởng của bộ Đường về Cực Lạc.

Rồi các năm sau, những bộ kinh khác do tôi phiên dịch được tiếp tục ấn hành, như là bộ kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh Đại Bát Niết Bàn, bộ kinh Đại Bát Nhã. Những năm 1970, tôi dịch xong bộ kinh Đại Bửu Tích, và mãi đến năm 1987 mới được bắt đầu ấn hành. Vì những năm trước đó điều kiện ấn hành không được thuận lợi, nên cũng làm uể oải tinh thần dịch kinh, nên tôi không sốt sắng phiên dịch thêm, để thời gian quí báu tuần tự trôi qua trong lúc tuổi già thật là điều đáng tiếc. Nhờ vào sự ấn hành bộ kinh Đại Bửu Tích, thúc đẩy tôi phấn khởi, nên trong ba tháng liền an cư năm 1988, tôi dịch xong bộ kinh Đại Tập, và nó được ấn hành tiếp nối bộ kinh Đại Bửu Tích, Hán tạng bộ Hạ.

Bộ kinh Đại Bửu Tích Hán văn được lưu hành từ xưa nay, vì thể theo ba môn Vô lậu học Giới Định Huệ, nên Ngài Bồ Đề Lưu Chí để pháp hội Tam Tụ Tịnh Giới ở đầu bộ kinh. Bộ Việt văn nầy, tôi thể theo Tam bửu Phật Pháp Tăng nên tôi để pháp hội Vô Lượng Thọ Phật khởi đầu, và cũng có ý muốn cho người đọc lúc mở kinh ra đã kết duyên với đức Phật A Di Đà, đức Phật đã được giới thiệu trong nhiều bộ kinh Đại thừa, và cũng là hồng danh mà phần lớn Phật tử ta luôn trì niệm. Nếu các pháp hữu muốn so với bộ Hán văn, chỉ giản đơn sửa tập I Việt văn thành tập II, và sửa tập Việt văn tập II thành tập I là hai bộ Hán và Việt ăn khớp nhau.

Nội dung bộ Đại Bửu Tích Hán văn đến pháp hội Quảng Bác Tiên Nhơn là hết, nhưng hết với nửa chừng. Trong bộ Việt văn nầy, tôi sưu tầm trong Đại tạng, bổ sung phần cuối trọn vẹn cho pháp hội nầy. Và cũng từ Đại tạng tôi dịch thêm pháp hội Diệu Cát Tường Bồ Tát .

Tíêp theo đó, nếu các pháp hữu thấy pháp hội nào có câu đức Phật ngự tại giữa khoảng cõi Dục và cõi sắc trong Đại Bửu Phường Đình thì đó chính là kinh Đại Tập. Cũng từ trong Đại tạng, tôi phiên dịch thêm pháp hội Vô Tận Ý Bồ Tát nối sau bộ kinh Đại Tập Hán văn đã lưu hành và để kết thúc toàn bộ kinh Đại Bửu Tích Việt văn, tôi đặt pháp hội Quán Vô Lượng Thọ Phật.

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ nầy để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời nầy và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại vài dòng này, chính tôi, phải chính tôi, không dám ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát

 

Chùa VẠN ĐỨC

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ

(08 – 10 – 1989)

THÍCH TRÍ TỊNH

Cẩn Chí



KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN


KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT


ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT 

HOA NGHIÊM KINH




NGHI THỨC SÁM HỐI

TRƯỚC KHI TỤNG KINH



(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước đức vô-lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải sám hối, sám hối tức là làm cho ba nghiệp thanh tịnh)

 

Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật (1 lạy)

Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp (1 lạy)

Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

 

(Quỳ tay cầm hương cúng-dường phát nguyện)

 

Nguyện mây hương mầu này

Khắp cùng mười phương cõi

Cúng-dường tất cả Phật

Tôn Pháp, các Bồ-Tát,

Vô-biên chúng Thanh-văn

Và cả thảy Thánh-hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô-biên cõi,

Khắp xông các chúng-sanh

Ðều phát lòng bồ-đề,

Xa lìa những nghiệp vọng

Trọn nên đạo vô-thượng.

(Cầm hương lạy 1 lạy)


 

(Ðứng chắp tay xướng) :

 

Sắc thân Như-Lai đẹp

Trong đời không ai bằng

Không sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đảnh lễ.

Sắc thân Phật vô-tận

Trí huệ Phật cũng thế,

Tất cả pháp thường-trú

Cho nên con về nương.

Sức trí lớn nguyện lớn

Khắp độ chúng quần-sanh,

Khiến bỏ thân nóng khổ

Sanh kia nước mát vui.

Con nay sạch ba nghiệp

Quy-y và lễ tán

Nguyện cùng các chúng-sanh

Ðồng sanh nước An-Lạc.

 

Án phạ nhựt ra vật (7 lần)


 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Thường-tịch quang tịnh-độ

A-Di-Ðà Như-Lai

Pháp-thân mầu thanh-tịnh

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Thật báo trang-nghiêm độ

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân tướng hải vi-trần

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Phương-tiện thánh cư độ

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân trang-nghiêm giải-thoát

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân căn giới đại-thừa

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân hóa đến mười phương

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Giáo hạnh lý ba kinh

Tột nói bày y-chánh

Khắp pháp-giới Tôn-Pháp (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Quan-Thế-Âm Bồ-Tát

Thân tử-kim muôn ức

Khắp pháp-giới Bồ-Tát (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Ðại-Thế-Chí Bồ-Tát

Thân trí sáng vô-biên

Khắp pháp-giới Bồ-Tát (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Thanh-tịnh đại-hải-chúng

Thân hai nghiêm : Phước, trí

Khắp pháp-giới Thánh-chúng (1 lạy)

 

(Ðứng chắp tay nguyện) :

 

Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng-sanh 'trong pháp-giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng (1) 'nên qui mạng (2) sám-hối (3).

 

(1 lạy, quỳ chắp tay sám hối) :

 

Chí tâm sám-hối :

 

Ðệ tử ...  và chúng-sanh trong pháp-giới, từ đời vô-thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô-minh che đăy nên điên đảo mê-lầm, lại do sáu căn ba nghiệp (4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô-gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô-lượng vô-biên nói không thể hết. Mười phương các đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chếu soi tất cả. Lý mầu thường trụ đầy dẫy hư-không.

Con từ vô-thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối-tăm, chẳng thấy chẳng nghe chẳng hay chẳng biết, vì nhơn duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6), trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. -- Kinh rằng : 'Ðức Tỳ-Lô-Giá-Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường-tịch-quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật-Pháp, mà con không rõ lại theo giòng vô-minh vì thế trong trí bồ-đề mà thấy không thanh-tịnh, trong cảnh giải-thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ nay mới chừa bỏ ăn-năn, phụng đối trước các đức Phật và A-Di-Ðà Thế-Tôn mà phát lồ (7) sám-hối, làm cho đệ-tử cùng pháp-giới chúng-sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô-thỉ, hoặc hiện-tại cùng vị-lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt-ráo thanh-tịnh.

Ðệ-tử sám-hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu-tập cũng trọn thanh-tịnh, thảy đều hồi-hướng dùng trang-nghiêm Tịnh-độ, khắp với chúng-sanh, đồng sanh về nước An-Dưỡng.

Nguyện đức A-Di-Ðà Phật thường đến hộ-trì, làm cho căn lành của đệ-tử hiện-tiền tăng-tấn, chẳng mất nhơn-duyên Tịnh-độ, đến giờ lâm-chung, thân an-lành niệm chánh vững-vàng, xem nghe đều rõ-ràng, tận mặt thấy đức A-Di-Ðà cùng các Thánh-chúng, tay cầm đài hoa tiếp-dẫn đệ-tử, trong khoảng sát-na sanh ra trước Phật, đủ đạo-hạnh Bồ-Tát, rộng độ khắp chúng-sanh đồng thành Phật đạo.

Ðệ-tử sám-hối phát-nguyện rồi quy-mạng đảnh-lễ : Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, A-Di-Ðà Như-Lai, biến pháp-giới Tam-bảo. (1 lạy)




NGHI THỨC TRÌ TỤNG

 

 

BÀI TÁN LƯ HƯƠNG

 

 

Lư hương vừa ngún chiên-đàn

Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa

Lòng con kính ngưỡng thiết tha

Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng minh.

 

Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)

 

 

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

 

ÁN LAM (7 lần)

 

 

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN

 

Tu rị Tu rị ma ha tu rị tu tu rị ta-bà-ha (3 lần)

 

 

TỊNH BA NGHIỆP CHƠN NGÔN

 

Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ,

đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám (3 lần)

 

 

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN

 

Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần)

 

 

BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.

 

Nam-mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần)

 

 

BÀI KỆ KHAI KINH

 

 

Phật-pháp rộng sâu rất nhiệm mầu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện tỏ Như-Lai nghĩa nhiệm mầu


 

Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH



BỔ KHUYẾT CHƠN NGÔN



Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, a bát ra đế, yết đa chiết, chiết nại di. Án, kê di kê di, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa sơn đính, bát ra đế, ô đát ma đát ma, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn tá-ha (7 lần)



Nam-Mô Hoa-T
ạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá- Na Phật (3 lần)




MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

 

 

Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh, diệc vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu tam bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

 

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha.



BẠT NHỨT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BỔN

ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI

 

NAM-MÔ A DI ĐA BÀ DẠ, ĐA THA DÀ ĐA DẠ, ĐA ĐIỆT DẠ THA.

A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐẾ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐA, DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA, CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. 



Khể chủ tây phương An-Lạc quốc

Tiếp dẫn chúng-sanh đại đạo sư

Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh

Duy nguyện từ-bi ai nhiếp thọ

 

Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp-giới chúng-sanh cầu ư chư Phật, nhứt thừa vô-thượng bồ-đề đạo-cố, chuyên tâm trì niệm A-Di-Đà-Phật vạn đức hồng danh kỳ sanh tịnh-độ. Duy nguyện Từ-Phụ A-Di-Đà Phật ai lân nhiếp thọ từ-bi gia hộ.

 

A-Di-Đà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang-minh vô đẳng luân,

Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-Di.

Hám mục trừng thanh tứ đại hải,

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa bồ-tát chúng diệc vô-biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

 

 NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (10 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (10 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (10 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (10 câu)

 

 

(Quỳ, chí tâm đảnh lễ và đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT (3 lần 3 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ VẠN ỨC TỪ KIM THÂN ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ VÔ BIÊN QUANG TRÍ THÂN ĐẠI LỰC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT. (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ PHƯỚC TRÍ NHỊ NGHIÊM THÂN THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI LIÊN TRÌ HẢI HỘI PHẬT BỒ TÁT HIỀN THÁNH CHÚNG CHƯ THƯỢNG THIỆN NHÂN (1 lạy)

 

 

Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sanh tử phàm phu tội chướng thâm trọng luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công-đức, nhứt tâm xưng niệm cầu nguyện vãng sanh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, bất thức Phật thân, tướng hảo quang-minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quan Ấm Thế Chí Bồ Tát chúng bỉ thế-giới trung, thanh-tịnh trang-nghiêm, quang-minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến A Di Đà Phật.

 

Ngã kim trì niệm A-Di-Đà.

Tức phát bồ-đề quảng đại nguyện

Nguyện ngã định huệ tốc viên minh

Nguyện ngã công-đức giai thành tựu

Nguyện ngã thắng phước biến trang-nghiêm

Nguyện cộng chúng-sanh thành Phật đạo.

Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp

Giai do vô thỉ tham sân si

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh

Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời

Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại

Diện kiến ngã Phật A-Di-Đà

Tức đắc vãng-sanh Cực-Lạc sát

Ngã ký vãng-sanh Cực-Lạc dĩ

Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện

Nhứt-thiết viên mãn tận vô dư

Lợi lạc nhứt thiết chúng-sanh giới

Ngã Phật chúng hội hàm thanh-tịnh

Ngã thời ư thẳng liên-hoa sanh

Thân đỗ Như-Lai Vô-Lượng-Quang

Hiện tiền thọ ngã bồ-đề ký.

Mong ngã Như-Lai thọ ký dĩ

Hóa thân vô-số bá cúng-dường-chi

Tri lực quảng đại biến thập phương

Phổ lợi nhứt thế chúng-sanh giới.

Chúng-sanh vô-biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật-đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

Nguyện sanh tây phương tịnh-độ trung

Cửu phẩm liên hoa vi-trần phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh

Bất thối Bồ-Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công-đức

Trang-nghiêm Phật tịnh-độ

Thượng báo tứ trọng ân

Hạ tế tam đồ khổ

Nhược hữu kiến văn giả

Tức phát bồ-đề tâm

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sanh Cực-Lạc quốc.

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sanh An-Dưỡng-Quốc.

 

NGUYỆN

 

A-Di-Đà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thinh phân minh, diện phụng Di-Đà, dữ chư thánh-chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã.

Nhứt sát na khoảnh, sanh tại Phật tiền, cụ Bồ-Tát đạo, quảng độ chúng-sanh đồng thành chủng-trí.

 

Chí tâm đảnh lễ : Nam-Mô A-Di-Đà Phật Thế-Tôn.

Nguyện ngã Tội chưóng tất tiêu diệt (1 lạy)

Nguyện ngã Thiện căn nhựt tăng trưởng (1 lạy)

Nguyện ngã Thân tâm hàm thanh-tịnh (1 lạy)

Nguyện ngã Nhứt tâm tảo thành tựu (1 lạy)

Nguyện ngã Tam muội đắc hiện tiền (1 lạy)

Nguyện ngã Tịnh nhơn tốc viên mãn (1 lạy)

Nguyện ngã Liên đài dự tiêu danh (1 lạy)

Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký (1 lạy)

Nguyện ngã Dự tri mạng chung thời (1 lạy)

Nguyện ngã Vãng sanh Cực Lạc Quốc (1 lạy)

Nguyện ngã Viên mãn Bồ tát đạo (1 lạy)

Nguyện ngã Quảng độ chư chúng-sanh (1 lạy)

 

(Xong đứng lên xướng)

 

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 

 

 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

 



Thích Nghĩa Sám Pháp:

 

(1) : Phiền-não, nghiệp nhơn, quả-báo, ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi : 'ba món chướng'.

(2) : Ðem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng, chính là nghĩa của hai chữ 'Nam-mô'.

(3) : Nói đủ là Sám-ma hối-quá, 'Sám-ma' là tiếng Phạm, nghĩa là 'hối quá' tức là ăn-năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.

(4) : Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý sáu căn và ba nghiệp thân - khẩu - ý.

(5) : Giết cha, giết mẹ, giết thánh-nhơn, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa-hiệp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô-gián nên gọi là tội Vô-gián - Ngục Vô-gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.

(6) : A-tu-la, Súc-sanh, Ngạ-quỉ, Ðịa-ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.

(7) : Bày tỏ tội-lỗi ra trước Chúng Nhơn không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú-tàng (che-giấu), Có phát-lồ thời tội mới tiêu, như bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi).

Comments

Popular posts from this blog