Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

KINH ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 7



PHÁP HỘI

VÔ BIÊN TRANG NGHIÊM

THỨ HAI



PHẨM THANH TỊNH ĐÀ LA NI

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Có các vị Thiên thần ở phía Nam núi Tuyết trợ thêm sức lực cho những người thuyết pháp, những người siêng tu hành pháp nầy, những người mong cầu pháp nầy, những người ưa thích pháp nầy ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Yết rị da nẵng át tha vi tác nhã nễ - kiêu xa rị da nộ nghiệt đế - ô bá da tăng ngật rị tứ đế - vi ninh mục đế - phiến đa bát na vi tác ra nễ - ô bá ta da xa phiệt để.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Có các vị Thiên thần ở bờ đại hải, vì nghe pháp nên làm cho các pháp sư được an lạc. Đức Như Lai vì muốn lợi ích cho họ nên nói câu thần chú nầy. Thiên Đế Thích cũng có thể truyền cho họ những câu thần chú nầy. Thần chú đây là những câu có thể nhiếp Đế Thích v.v... ».

 

 Đức Như Lai liền nói thần chú rằng :

 

 « Ma khí bát để - ma tô mãng để - nê bã a ra nhã - xá chí bát để - tát bà a tô ra nẵng - niết ra già đa nể - mạt nhi sái dã - tố bát ra để sắc sĩ đa - bát ra mãng a ra na nỗ tỉ - a tố ra nẳm - nê phược nẳm a địa bát thầm - tát nã - bố ra tắt ngật rị đổ tứ niết - nê vi tứ thử bả tế - phược ta phược tát na - bố lãng nại ra đô - đa bế tứ - a tố ra tát na - đọa nặc a khất lâm - đa phược bát thi chủy - vi đồ dựng tứ đa - ma ha tố ra - a tố lệ na ra bát ra diễn để - tị đa đa ra tất ra - na la địa thâu địa xa - na mãng bột đà tứ dã - dĩ át để sử duệ - nẵng ma ngúc đa ra - ma ha dã xá - nê phược a tố ra tứ danh - tăng nghiệt ra danh - bột đà nhiếp đà - a nậu đa la - thất ra mạt tư - nê phược vi thệ da - na ma bột đà để nẵng mãng tư - tấn yết ra ma xiển na tư mạt nẳm - bột đà nang danh nẳng phược tứ đa - vi thệ duệ tố - đa đa nê phược - a tố ra thất giả - vi ninh đa phạm - ngật lý đa đế - ra khất sa nê phược nẳm - ma nỗ sa nẳm - ra khất sa vĩ na - dục ế ha- đạt ma nễ nê thế - ô đa lang để - tô bát ra để sắc sĩ đa - ninh ngật lý tứ đa - đa phược dạ a tố ra - a ra khứ sái ta dược xoa khẩn na ra - nẵng già cưu bàn tra bộ đa đa nễ - tỳ xá giá na nẵng ra đa tha - a giả la tất thả nẵng - bát ra bát đô tứ - ấn na ra ấn na ra - bố ra tắt ngật lý đa - a để nghiêm tỳ ra - phiến thẻ giả - a nghiệt ra bố lộ sa - tế vĩ nang - bát ra nhương mạn đô tứ - nê mạt na ra - bột địa ma ta tha vi thứ lộ đa - a mạt xả ế ha - tố đa ra tứ thị - a ra khất sa mạt na tứ đa - ta ha tát ra nê đa ra - tố mục khê am bá ta lệ - bát rị phược lý đa - ô ba muộn nhương tát phược cam yết nang - bố ra mê tứ đổ tứ danh - giả ngật rị đảm - a để bát thỉ giá - a nỗ bát ra một đa - a giả ra tố bát rị để sắc sỉ đa - ngật lý chiêm tứ - cứ xá lam bố ra mê - ma nộ thế số - mang tứ bát để - bố ra phược hư mâu tứ - nê phược nẫm - bố thệ ấn để - đáp phược mang nộ sá - bột đà tứ dã ngật rị đắc phược - tát đắc ca lam - bố xà bệ sát để - đế mạc hô - ma ha phược mãng ninh - vi giả lam bá phược nan giả - tố thứ bá để - nê phược lai dã tứ - mãng địa dã tứ thị - dã khứ sớ tứ bá lý phược lý đỗ - bát ra lạm ma - ha rị ma hồng giả - đa phược tứ ca - vi xá na a ngật ra phược tứ - ta đa để ma để - tố ra đa bát ra để - ta ra đa ta đa tha - bát ra bộ tát kiến đà - a nễ ra giả mãng ra giả - ma ha ma nghê - ma ha tát kiến đà - ma ha kế đô- tố bát ra địa giả - ma ha ma ra - ế đế dược xoa - ma ha đế nặc - a ra khất sằn để bá phược nam đa phược - ma hộ dược xoa bát rị phược lộ - duệ na thâu bá tứ phược ta phược - ma tố tát phược phược tố để nặc - ma ha đế nặc ma ha ngưỡng nể - ma ha bát ra ha ra nộ chế phược - a vĩ tứ ta na gia đa thế phược giả - tố danh rô mộ ra đà nễ - đa phược phược ta phược - tát phược nê phược - bố ra tắt ngật rị đỗ - thứ bà để - bà phược nẳng ô bà ta - bát ra ma muộn giả tứ - để nặc ta.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Thần chú nầy là những câu có thể nhiếp Thiên Đế v.v...

 

 Nếu chư Bồ Tát hướng đến Bồ đề, sau đó vì nhiếp thọ chúng sanh mà an trụ trong nhiếp pháp, do thần chú trên đây nên sẽ được Thiên Đế Thích v.v... truyền thọ các câu thần chú.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Gì là những câu có thể nhiếp lấy Tứ Thiên Vương và các quyến thuôïc ? ».

 

 Đức Phật liền nói kệ rằng :

 « Dạ Xoa không giận não

 Người tu tập pháp nầy

 Đa Văn Vương Thái Tử

 Cha con đều cung kính.

 San Xà Gia, Dạ Xoa

 Các đoàn quân lữ mạnh

 Thường ủng hộ những người

 Nơi pháp nầy ưa thích.

 Trì Quốc đại thần vương

 Hằng đem quyến thuộc theo

 Thường ủng hộ những người

 Khéo diễn thuyết pháp nầy.

 Quyến thuộc thần Xứ Mục

 Tự mình và quân chúng

 Tất cả sẽ ủng hộ

 Người tu tập kinh nầy.

 Tăng Trưởng đại Thiên Vương

 Quyến thuộc và quân lữ

 Đều thường theo vệ hộ

 Người ưa thích pháp nầy.

 Thần La Sát Tràng Phan

 La Sát Đại Tràng Lực

 Đều ở tại phương Đông

 Nhiếp vào câu chú nầy

 Tự mình và quyến thuộc

 Thường gần gũi thủ hộ

 Người đọc tụng thọ trì

 Pháp môn thậm thâm nầy.

 Thần Hề Ly Mạt Để

 Lam Bà, Tỳ Yết Giá

 Và thần Tát Đà Đa

 Đồng ở tại phương Nam

 Hầu hạ Thiên Đế Thích

 Đều nhiếp trong chú nầy

 Thường giúp thêm tinh lực

 Cho người trí thuyết pháp.

 Và các thần La Sát

 Kiếm Ly Tam Mật Đa

 Cùng Già La Hệ Sí

 Với thần Mật Thất Đa

 Đồng ở tại phương Tây

 Thần chú nầy nhiếp đến

 Tất cả thường ủng hộ

 Người thuyết pháp rõ nghĩa.

 Và các thần La Sát

 Thật Đế, Hữu Thật Đế

 Tin sâu nơi pháp nầy

 Đồng ở tại Bắc phương,

 Vì muốn họ ủng hộ

 Phật nhiếp họ vào đây,

 Do oai lực Như Lai

 Đều chắp tay mà đứng.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là những câu có thể nhiếp Tứ Thiên Vương, các quyến thuôïc và hàng thị tùng ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Tán ninh vi xá nễ - ma ha tát lê - ma ha yết nễ - ma ha yết nhã nễ - bát ra bộ đa vi thệ duệ - đà phược xả a nghiệt ra - ô bá phược tác nễ - a nể lã tế nẳng đô ta ha - nẳng nẳng phiệt nang nại xa nễ xá - chiết đỏa rị lộ ca bá ra nễ - đổ tứ minh ra nhã nẵng ô chiết tha - a phệ thiết na - y ha tát mạn phược ha ra thá - vật ra thệ ninh tiết ra ha - tát mê chiết đột địa xá.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Những câu gì có thể hàng phục ma Ba Tuần ? Ông nên lóng nghe nghĩ kỹ ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Mật để lệ - mật đa ra phược để - ca lộ ninh - ca lộ nẳng phược để - vi bộ để - vi bộ đa phược để - bát ra mâu chiết nễ - bát ra mâu chiết nẳng phược để - ngật rị đa ngật rị đa phược để - a nộ nghinh danh - a nộ nghinh mãng phược để - ô bá đa xiết na nễ - già ma vi phược nhương nễ - đế rị sắc nẵng ta mâu, châu sát nễ - nễ tiết rị tứ đa mang ra phược lam - ôn đa ra nang phược để - bát ra để dữ đa ra phược để - ô bế khứ sa nộ ta tứ đế a lam ma nang vi thâu đà nễ - ninh na ra xá nẵng - a tam mộ ha nễ – nễ sắc tra bát ra bán giả ninh.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là những câu chú hàng phục ma Ba Tuần. Do những câu chú nầy, Thiên ma và ma quân không được dịp đễ.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Gì là những câu có thể nhiếp Đại Phạm Thiên ? Ông lắng nghe và nghĩ kỹ ».

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 A địa bát để - ma ha tất thá nẵng phiệt để - ta phược viêm ngật rị đa - tất tha nẵng danh để - nẵng nẵng ma hộ vi vĩ đà - bát ra để dữ bá tát tha nẵng già la nẵng - a địa già tát tha nẵng bát để - thứ đà tát tha nẵng tiết đỗ - ta hàm bát để - a địa yết lãng đa - vi thứ đà nẵng - thứ bà bát rị - bát ra thứ bá địa mục đa - bát ra bột đa thất rị đa - nễphược ta nang - bát ra bộ đa - bát ra bá - nể tiết ra khê đa giá ma - ta phược tất để già ma - bát ra để dữ bá tát tha nẵng.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là những câu có thể nhiếp Đại Phạm Thiên. Do thần chú nầy, Đại Phạm Thiên có thể truyền thọ cho những người thuyết pháp cả văn cú phạm hạnh thanh tịnh viên mãn.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Gì là những câu pháp quan của Tịnh Cư Thiên ? Ông lắng nghe và nghĩ nhớ kỹ ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Vi thâu đà nẵng phược để - án để ma già rô nễ - già ma ma phược - ô ta đả nễ- bát ra niết danh đa nễ - bát rị diễn đa - bát ra để dữ ba tất tha nẵng bát gia - phược ta nẵng - a lại da vi thâu đà nễ - a nhương bát diễn đa già ra nễ - án để ma nể xá - bát ra để dữ bá tất tha ninh.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Do thần chú nầy, chư Thiên cõi trời Tịnh Cư có thể truyền thọ những pháp tạng của Như Lai cho chư Bồ Tát.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Với các vị Thiên Vương, Nhơn Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương, Long Vương, hoặc những hàng quỷ thần oai đức lớn, hoặc oai đức nhỏ, không luận tin hay chẳng tin, Như Lai đều truyền thọ câu đà la ni, làm cho những người đã tin được thêm lớn lòng tin đối với pháp nầy, những kẻ không tin thời mặc nhiên bỏ đó, chẳng cho họ nói năng cãi cọ. Lúc diễn thuyết pháp nầy, nếu có ai đến làm chướng nạn, do thần chú nầy thời đều hàng phục.

 

 Trong đây gì là những câu thần chú có thể nhiếp thủ người có lòng tin ? ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Ngu rô nã lê - a giả bát lệ - ta phược tỳ niết ha ra - cú mạt nê - niết nhương nẵng bát ra để vi rô dị ninh - chỉ đa san giả nẵng nễ - chỉ đa bát rị yết danh - chỉ đa tam bát ra ta nã nễ - ma nẵng tứ dã- ha rị sái già ra nễ - vi nhương nẵng tứ dã - a nộ ta phược để – a nộ đạt ma nộ bế khứ sái ninh - tứ đô san na rị xá nễ- đa tha a khứ sát ra bát na - niết nê xá - thâu địa đa phược để - dã tha tiết đa - dã tha nỗ cú lộ bá ma - ô bá mãng niết nê hiệp - vi thứ địa đa - đát đa ra già lẹâ - nẵng giả yết đáp vi diêm - tam bát ra ta na át tha đổ ta ma - dã tha nộ cú lại giả mục khê - ô ba tăng hạ ra dụ nễ xá - a xá da tứ dã - vi thứ địa gia - dã tha thứ địa để - la khứ sái nẵng la khứ sái nễ - la khứ sái nẵng phược để - la khứ sái nang vi thâu đà nễ - bát ra để phệ đà át tha - san na rị xá nễ - cú xá ra mạo tha tác mê ha - bát ra vi giả duệ - ta ma ta ra nễ - ngật rị đa nộ a ra khứ sử - tát để dã át thế - tát để dã nẳm - tố vi thâu địa đế.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Trên đây là những câu nhiếp thủ người có lòng tin thanh tịnh, và cũng có thể truyền trao nghĩa lành cho pháp sư diễn thuyết pháp nầy.

 

 Như Lai lại nói những câu nhiếp phục người chẳng tin ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Khứ sái mê - khứ sái ma phược để - mê đa ra bát rị yết ma - bát ra để giữ ba ta tha ninh - già lộ nang bát ra để lã ta - tứ đa nỗ kiếm ba - tán nặc nẵng nễ - tăng yết ra ha phược tát đỗ - tứ đa phược tát đỗ - tán na ra xá nễ - bát rị phược nặc nễ gia - phược nặc nễ - ky ba dương đa ra - tế phược nễ - nẵng đát đa ra nê thế tát tha đáp vi gia - dã đa ra vĩ yết ra ha phược để nộ - tát ma tiết lãng đà - bát ra na lã nễ - ô ba giá ra san na rị xá nễ - nễ xá ra dạ vi thứ đà nễ - a đa ma nộ già danh - bát ra ô ba tăng ha la nễ - niết danh đa nễ - a nộ ra khứ sa - bát ra để giữ ba ta tha ninh.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là những câu điều phục người bất tín, chẳng cho họ tạo những lỗi ác, bằng không họ còn ganh ghét pháp lành, huống là đối với pháp vô thượng nầy.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Như Lai thấy chúng sanh, những kẻ không có lòng tin thanh tịnh, hoặc muốn tranh đấu, hoặc muốn tổn hại, hoặc muốn não loạn, mà họ đế gần Như Lai. Như Lai liền biết tâm niệm của họ, theo cơ của mỗi người, Như Lai dùng các pháp môn làm cho họ được giác ngộ, cho họ hết những ý nghĩ chẳng lành mà pháp khởi các căn lành.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Như Lai an trụ trong mười tám pháp bất cộng, có thể khéo rõ biết tâm hạnh của chúng sanh, và rõ biết những phương pháp để nhiếp độ.

 

 Những gì là mười tám pháp bất cộng của Phật ?

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Từ lúc thị hiện chứng vô thượng Bồ đề nhẫn đến nhập vô dư Niết Bàn, trong thời gian đó đức Như Lai trọn không lầm lỗi, không lời sốt bạo, không quên mất, không có chẳng trạch xả, không các thứ tưởng, không tâm chẳng định, tinh tấn bất thối, niệm bất thối, chí nguyện bất thối, đẳng trì bất thối, huệ bất thối, giải thoát bất thối, giải thoát tri kiến bất thối, tất cả thân nghiệp hành động theo trí huệ, tất cả ngữ nghiệp nói năng theo trí huệ, tất cả ý nghiệp là trí huệ, tri kiến về quá khứ, hiện tại và vị lai đều không trụ trước, không chướng ngại.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Vì Như Lai thành tựu mười tám pháp bất cộng nầy nên vô lượng tri kiến thảy đều thành tựu, có thể khai thị diễn thuyết pháp môn thanh tịnh đà la ni nầy. Làm cho những hữu tình bất tín sanh lòng tin thanh tịnh. Làm cho người đã tin được trí thanh tịnh nơi pháp môn nầy.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Nay Như Lai dùng vô lượng danh ngôn vì các ông mà khai thị diễn thuyết pháp môn nầy, muốn cho các ông rõ biết khắp vô lượng pháp môn, được đà la ni ».

 

 Đức Phật liền nói thần chú rằng :

 

 « Đát điệt tha a rị duệ - a rị gia phược để - a rị gia nỗ yết đế - nễ đà ninh - nễ đà nẵng phược để - phược đỗ bát đa danh - phược ra đỗ ky xiết nã già la nễ - a già xá vi thâu đà nễ - a nộ khứ sát ky nễ - a ninh khứ sát ky nễ - a vi tiết đa bát ra danh - a nộ bá tiết để nễ - niết bạn nẳng bát tha vi thâu đà nễ - vi gia ba nễ khứ sử bát để - a nộ bá na - ninh lộ đà bá ra danh - tát phược nhương niết bạn nẵng - ninh ba ra xá ninh.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là ấn đà la ni, câu có thể thanh tịnh, câu danh thuyết đặc dị.

 

 Do thọ trì pháp môn đà la ni nầy, dùng công dụng ít mà có thể chứng Bồ Tát vị, được sai biệt diệu trí và gần đại bi. Do rõ biết nghĩa nên chứng ngộ được nhứt thiết pháp trí.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Câu đà la ni nầy là đại lương dược vì có thể phá trừ được các trọng bịnh. Lại có thểù trừ diệt vô minh vô trí, những chướng rất tối tăm. Thuận với minh pháp mà chuyển viên mãn.

 

 Thuận minh pháp gì mà chuyển viên mãn ? Nghĩa là vì thuận với minh pháp nên trí viên mãn, mà có thể hiện tiền chứng được trí túc mạng minh. Vì thuận với minh pháp nên trí thiện xảo, mà được trí thiên nhãn minh. Vì tùy thuận minh pháp nên xa lìa các phiền não, mà hiện tiền chứng được trí lậu tận minh. Do đây lại có thể thành tựu tất cả môn ba la mật nhẫn đến nhứt thiết chủng trí.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Ông xem Như Lai có thể khéo thuyết pháp rộng lớn như vậy, khéo viên mãn những phương tiện thiện xảo như vậy.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Như Lai thành tựu đại trí như vậy có thể khéo trụ nơi nhứt thiết chủng trí, thập lực, tứ vô úy, mười tám pháp bất cộng. Đây là bảo tạng vô thượng kết tinh của những căn lành đã tu từ vô lượng vô số ức kiếp. Do đó nên khéo an trụ được nơi những pháp môn nầy. Nay Như Lai vì các ông khai thị diễn thuyết pháp môn thanh tịnh đà la ni nầy, để được thành thực Phật Pháp.

 

 Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn những người phát tâm cầu đến đại Bồ đề, mà muốn tu học theo Phật, muốn ủng hộ Phật Pháp, muốn thọ trì vô lượng pháp tạng của Phật, đối với pháp nầy phải siêng tu tập chẳng phóng dật, chẳng tham trước nơi ba cõi, phải khéo gia trì nhứt thiết trí, khéo tu tập những phương tiện thanh tịnh nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, với thật đế, siêng tu tập thanh tịnh, trong các pháp, phải thích cầu trí huệ thanh tịnh.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Vì nội tâm thanh tịnh nên tất cả pháp thanh tịnh, vì nội tâm thanh tịnh nên tất cả pháp tịch tịnh, vì nội tâm tịch diệt nên tất cả pháp tịch diệt, vì nội tâm vô sở thủ nên tất cả pháp vô sở thủ, vì nội tâm bất trụ nên các pháp bất trụ, vì nội tâm diệt nên tất cả pháp diệt, vì nội tâm vô sở tác nên tất cả pháp vô sở tác, vì nội tâm không đến không đi nên tất cả pháp cũng không đến không đi.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Những pháp môn nầy làm cho chư Bồ Tát nội tâm được thanh tịnh. Vì bổn tánh tất cả pháp là vô phân biệt nên nội tâm cũng chẳng khởi phân biệt. Nhưng có thể thọ trì môn thanh tịnh đà la ni, rời bỏ tham lam, sân khuể, cống cao. Được chư Phật khen ngợi. Làm pháp chủ vô thượng tối thắng của chúng sanh. Sẽ có thể chứng đặng trí thanh tịnh vô ngại biện tài, và có thể chứng được vô sanh pháp nhẫn, có thể thanh tịnh các nguyện hạnh, có thể khắp thọ trì tất cả pháp bất cộng, lời nói ra đại chúng đều tín thọ, sẽ có thể chuyển đại pháp luân.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Do được đà la ni nên chư Bồ Tát quyết định sẽ chứng vô sanh pháp nhẫn, được pháp trí thanh tịnh, nghĩa là tất cả pháp bất sanh bất diệt. Tất cả pháp đây đều ở trong môn diệt hoại, môn diệt hoại nầy đồng là tướng vô sanh, đã là vô sanh thời là vô diệt. Quán sát như thật vậy rồi, Bồ Tát đối với tất cả pháp xa lìa tất cả tướng. Đã lìa tướng thời chẳng chấp trước, chẳng hí luận.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là chư Bồ Tát dùng trí vô sanh khéo quan sát mà có thể chứng nhập các môn đà la ni nầy, do đây mau chứng được vô sanh pháp nhẫn biện tài vô ngại ».

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

 

 « Nếu pháp hư vọng sanh

 Sanh xong tất diệt hoại

 Các pháp chẳng phải có

 Nắm lấy được cái gì ?

 Các pháp chẳng phải có

 Không có không thể lấy

 Pháp đã bất khả đắc

 Thời nắm lấy nơi đâu ?

 Nếu chẳng rõ các pháp

 Tự tánh bất khả đắc

 Người nầy duyên theo tướng

 Chẳng được đà la ni.

 Các pháp như hư không

 Nên diễn thuyết khai thị

 Hư không và khai thị

 Cả hai vô sở hữu.

 Hai thứ nầy là không

 Các pháp cũng là không

 Hiểu pháp được như vậy

 Người nầy được tổng trì.

 Rõ biết không sơ thỉ

 Chẳng phân biệt trung hậu

 Các pháp rời phân biệt

 Tất cả đều là không

 Nếu đã không cứng thật

 Chẳng thật chẳng phải có

 Cứ chơn lý các pháp

 Nắm lấy đâu thể được !

 Rõ các pháp như vậy

 Tự tánh vô sở hữu

 Nay Phật lược nói họ

 Được tổng trì thanh tịnh

 Các pháp như hư không

 Cũng rỗng đồng hư không

 Dùng huệ tường quan sát

 Người nầy được tổng trì

 Các pháp vô sở hữu

 Chẳng sanh cũng chẳng khởi

 Không có không thể lấy

 Thế nào nắm lấy được

 Tất cả pháp vô tướng

 Tự tánh không hí luận

 Tất cả đều ly tướng

 Thuyết pháp vô sở hữu

 Nếu hiểu được như vậy

 Đúng thật lý các pháp

 Người nầy vô phân biệt

 Mà là nắm lấy được

 Tự tánh của các pháp

 Vì không nên bất đắc

 Rõ nghĩa vô sở hữu

 Người nầy được tổng trì

 Nếu quán sát như vậy

 Không nhiễm tất cả pháp

 Trí không vô phân biệt

 Người nầy nắm được pháp

 Nghĩa không, nghĩa vô thường

 Nghĩa yểm ly, nghĩa khổ

 Nếu dùng huệ hiểu rõ

 Người nầy trí thêm lớn

 Thị thuyết vô sở thủ

 Nghĩa Niết Bàn như lý

 Gìn tâm vô phân biệt

 Cũng chẳng phân biệt pháp

 Do đây nhận rõ được

 Các pháp chẳng bền chắc

 Là không vô sở thủ

 Tịch tịnh, không, khó thấy

 Hiểu pháp xong diễn thuyết

 Diễn thuyết vô phân biệt

 Vô trước vô phân biệt

 Trì được pháp môn nầy

 Nếu hiểu pháp tướng rồi

 Rõ được là vô tướng

 Người nầy nơi các pháp

 Chẳng có tưởng xả ly

 Người nầy rõ được nghĩa

 Pháp của Phật đã nói

 Nghĩa lý rất bí mật

 Người nầy hiểu theo Phật

 Nếu quán sát đúng lý

 Tất cả pháp vô lượng

 Xa lìa các số lượng

 Hiểu được nghĩa lý nầy

 Nếu quán sát các pháp

 Không danh và không tướng

 Rõ thấu được nghĩa nầy

 Trí người này thêm lớn

 Rõ nghĩa pháp môn này

 Quán sát được đúng lý

 Trong nghĩa lý các pháp

 Người nầy không nghi hoặc

 Nếu dùng huệ quán sát

 Tướng của tất cả pháp

 Quyết định hiểu rõ đó

 Người nầy chứng vô tướng.

 Đối với nghĩa lý nầy

 Hiểu rõ khéo an trụ

 Được vô úy như vậy

 Mau chứng được Phật Pháp

 Chẳng hí luận nơi pháp

 Bình đẳng vô phân biệt

 Tương ưng hiểu pháp rồi

 Không lầm nghĩa yểm ly

 Tịch diệt vô phân biệt

 Tịch tịnh dứt các uẩn

 Bình đẳng với các pháp

 Được biện tài đúng lý

 Tu tập được từ bi

 Lợi ích các chúng sanh

 Khéo tương ưng an trụ

 Hiểu được đạo vô thượng

 Nếu rời tướng chúng sanh

 Hiểu được pháp vô ngã

 Cùng nghĩa không hí luận

 Thật lý chẳng hí luận

 Nếu nghe pháp nầy rồi

 Được lòng tin thanh tịnh

 Người nầy sẽ gặp Phật

 Di Lặc Lưỡng Túc Tôn.

 Họ làm ta vui mừng

 Ở trong chúng hội nầy

 Nghe hiểu được pháp đây

 Làm được bực hiền thiện

 Người kính mến Như Lai

 Thì tất không phá hoại

 Do nghe được pháp nầy

 Được bực hiền thiện mến.

 Nếu ở trong hiền kiếp

 Muốn được thấy chư Phật

 Tu học pháp môn nầy

 Chư Phật đều hoan hỷ

 Muốn thấy Vô Lượng Thọ

 Cùng Phật A Súc Bệ

 Oai quang đại danh xưng

 Phải học pháp môn nầy.

 Nếu muốn thành Bồ đề

 Pháp tịch tịnh tối thắng

 Hoặc cầu ngôi Chuyển Luân

 Phải học pháp môn nầy.

 Nếu muốn cầu vô thượng

 Môn thiện xảo tổng trì

 Phải học pháp môn nầy

 Tinh tấn chớ phóng dật.

 Nếu muốn thành nguyện lớn

 Rộng tối thượng thù thắng

 Cầu chứng được Bồ đề

 Pháp môn nầy phải học.

 Pháp môn đà la ni

 Phật nói trong kinh nầy

 Là ấn pháp vô thượng

 Khai thị được các pháp.

 Thật nghĩa trong các pháp

 Dùng tổng trì khai thị

 Pháp môn hư không nầy

 Giải quyết nghĩa vô biên.

 Pháp nầy khai thị được

 Những thiện pháp đã nói

 Nghĩa tổng trì thiẹân xảo

 Do sức đà la ni.

 Tổng trì là trí huệ

 Trì được tất cả pháp

 Nghĩa tổng trì thiện xảo

 Dùng huệ rõ biết được.

 Nơi đây giải thích nhiều

 Đã nói rõ Phật Pháp

 Dùng nghĩa để khai thị

 Đạo Bồ đề Vô thượng.

 Trí sai biệt thiện xảo

 Chánh khai thị pháp nầy

 Nếu học tập pháp nầy

 Chứng Bồ đề Vô thượng.

 Khai thị văn pháp nầy

 Pháp môn lành vô thượng

 Được trí phương tiện rồi

 Nên diễn thuyết pháp nầy.

 Chưa từng nói chủng tánh

 Vô thượng của các pháp

 Nơi nghĩa nầy phải học

 Khai thị pháp cam lồ.

 Người trí nếu muốn cầu

 Trí vô ngại của Phật

 Nếu học tập nghĩa nầy

 Sẽ được trí vô thượng.

 Thuở quá khứ xa xưa

 Vô lượng vô số kiếp

 Nếu chẳng học pháp nầy

 Ta chẳng chứng tịch diệt.

 Do ta từng cúng dường

 Vô lượng trăm ngàn Phật

 Do đây rõ biết được

 Diễn thuyết pháp vô thượng.

 Ta vì các chúng sanh

 Làm vô biên lợi ích

 Các ông cũng nên làm

 Sẽ được tổng trì nầy.

 Nếu có thể rõ biết

 Pháp ấn đà la ni

 Người trí do một câu

 Vào được pháp môn nầy.

 Phật trí huệ vô thượng

 Cũng không có số lượng

 Do Phật đủ trí huệ

 Khai thị được pháp nầy.

 Người trí cầu nơi đây

 Liền rõ nghĩa Bồ đề

 Nghĩa của pháp môn nầy

 Nên học pháp vô úy.

 Người trí nếu muốn cầu

 Tánh trí huệ rộng lớn

 Tôn trọng cung kính Phật

 Phải học pháp môn nầy.

 Nếu muốn chuyển pháp luân

 Và thổi pháp loa lớn

 Người trí đúng chơn lý

 Cần học pháp môn nầy.

 Nếu muốn phóng quang minh

 Soi khắp vô biên tế

 Lúc mong cầu Phật Pháp

 Phải học đúng pháp nầy.

 Với trời, người, thế gian

 Nếu muốn làm thiện thủ

 Phải cần học kinh nầy

 Quyết định tất cả pháp.

 Muốn cầu trí rộng lớn

 Phát khởi các công đức

 Thích cầu trí huệ Phật

 Phải học theo pháp nầy

 Muốn học theo pháp môn

 Thích cầu trí huệ Phật

 Vô thượng không hí luận

 Phải học nghĩa lý nầy.

 Nếu muốn thích khai thị

 Vô ngại trí thuyết pháp

 Tu học pháp nầy rồi

 Sẽ nói pháp cam lộ.

 Nếu muốn soi muôn ức

 Vô lượng vô biên cõi

 Người nầy phải khéo tu

 Giáo pháp của kinh nầy.

 Pháp môn vô thượng đây

 Sạch trừ được các pháp

 Trong kinh nầy đã nói

 Tất cả pháp thanh tịnh.

 Đấng chủng trí Thế Tôn

 Diễn thuyết pháp rộng lớn

 Vì Bồ Tát mà nói

 Kinh nầy là vô thượng.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Do đây nên Bồ Tát sau khi ưa thích giáo pháp nầy rồi, vì nhiếp thọ pháp nầy cho được còn lâu, lại vì thương xót chúng sanh, thời nên biên chép, thọ trì, đọc tụng.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Nếu có người được nghe pháp nầy, thường có quan niệm kính mến Như Lai, những người nầy sẽ đượcvô biên pháp tạng của Như Lai, sẽ được các môn đà la ni và đầy đủ biện tài, mau được tự tại đối với tất cả pháp, sẽ nhiếp thọ đầy đủ Phật độ trang nghiêm bất tư nghì, chúng Bồ Tát và chúng Thanh Văn cũng bất tư nghì.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi tất cả pháp không hí luận do môn thanh tịnh đà la ni, nên các pháp môn thường được hiện tiền, nhiếp thọ được công đức thù thắng bất tư nghì.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Đây là môn thanh tịnh đà la ni thứ ba.

 

 Thời kỳ sau đây, nếu chư Bồ Tát muốn theo Phật để học pháp môn đà la ni nầy, thời phải gần gũi thiện hữu, xa lìa ác hữu, ủng hộ các pháp môn nầy, trọn đời thọ trì pháp ấn thanh tịnh đà la ni, dầu phải bỏ thân mạng.

 

 Ví như trăng tròn đêm rằm tháng tám chiếu sáng rực rỡ hơn tất cả tinh tú. Ba pháp ấn đà la ni nầy, quang minh rất sáng suốt trong tất cả khế kinh cũng như vậy. Chư Bồ Tát do tôn trọng pháp môn nầy nên được vô lượng biện tài. Vô lượng biện tài đây chính là bực bất phóng dật. Những gì là bực bất phóng dật ? Nghĩa là nơi những pháp nầy tư duy quán sát đúng như lý, chẳng sanh vọng niệm do đây có thể làm cho chí nhẫn được thanh tịnh. Chư Bồ Tát tinh tấn cầu bực bất phóng dật thời phải khéo tu tập pháp môn nầy. Vì muốn cho pháp nầy được còn lâu, nên tâm thường khiêm hạ tôn trọng chánh pháp, biên chép quyển kinh chẳng rời nơi tay. Thấy người có chí mong cầu pháp nầy, phát tâm hướng đến đại Bồ đề, thời phải vì họ khai thị diễn thuyết bảo họ đọc tụng biên chép, đúng theo nghĩa mà giải thích cho họ, chẳng nên ẩn giấu pháp môn cưa mình đã thọ trì. Phải nguyện cho chúng sanh được Phật Pháp Vô thượng nầy, phải làm cho tất cả chúng sanh thường chẳng khuyết giảm các Phật Pháp. Chư Bồ Tát nầy chẳng lẩn pháp, thường thích đem ban bố cho người, nơi nghĩa lý chẳng giấu giếm, đều vì người diễn giải, không có chút pháp gì mà chẳng khai thị.

 

 Nầy Vô Biên Trang Nghiêm ! Vì an lạc lợi ích các chúng sanh, các ông phải thọ trì pháp môn thanh tịnh đà la ni nầy ».

 

 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo Tôn giả A Nan Đà rằng : « Ông nên thọ trì pháp môn nầy. Hàng đệ tử kính thờ ta, cũng phải thọ trì kinh điển nầy ».

 

 A Nan bạch Phật rằng : “ Thế Tôn ! Do thần lực của Phật, tôi đã thọ trì. Do tôi thành tựu pháp môn nầy nên vô lượng pháp môn đều được hiện tiền ».

 

 Phật nói : “Đúng như lời ông. Nầy A Nan ! Do oai lực của Phật và vì pháp môn nầy khắp thanh tịnh, nên những người thọ trì pháp môn nầy, những người gần gũi ta thọ trì được pháp nầy, thời vô lượng pháp môn đều được hiện tiền.

 

 Do đây ông phải thọ trì vô lượng pháp tạng của Như Lai ».

 

 Lúc Phật nói pháp nầy rồi, trong pháp hội, vô lượng Bồ Tát chứng được đại pháp quang minh. Do được pháp quang nên vô lượng pháp môn của chư Phật nói đều được hiện tiền, được gần nhứt thiết chủng trí, được thành tựu những nguyện cầu thù thắng trang nghiêm.

 

 Phật bảo A Nan : “ Ông xem bổn tánh của các pháp rất sâu như vậy. Như Lai có thể ở nơi pháp không danh tướng mà diễn thuyết danh tướng, lại có thể khai thị bổn tánh của các pháp, lại cũng trừ sạch làm cho được thấy thanh tịnh. Dầu rằng nói các pháp nhưng không pháp gì là có thể nói và cũng không người hay nói.

 

 Nầy A Nan ! Nếu có thể quan sát pháp tánh như vậy thì có thể phát sanh được vô lượng trí huệ ».

 

 Lúc Phật nói pháp nầy, vô sốâ Bồ Tát chứng vô sanh pháp nhẫn. Vô lượng chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề.

 

 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn gia trì môn đà la ni nầy, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới của chư Phật. Do ánh sáng nầy, chư Bồ Tát ở các thế giới kia đều được nghe môn đà la ni nầy, được thành thục pháp phần Bồ đề. Trong những thế giới đó lại có vô lượng chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề. Lúc đó tất cả chúng sanh đều được an lạc.

 

 Chư Thiên rưới hoa trời, ở giữa đại hội xướng lên rằng : Nguyện tất cả chúng sanh đồng được Phật huệ.

 

 Chư Bồ Tát bạch Phật : “ Thế Tôn ! Pháp môn nầy tên gọi là gì ? Chúng tôi phải phụng trì thế nào ? ».

 

 Phật nói : « Pháp môn nầy hiệu là Đà La Ni Vương, gọi là Đà La Ni Aán, cũng gọi là Tam Phẩm Nhiếp Trì Thiện Xảo. Các ông phải phụng trì. Đây là pháp môn thiện xảo vô biên biện tài nhiếp tất cả nghĩa. Do pháp môn nầy mà chiếu rõ được tất cả pháp, dứt tất cả nghi. Do đây nên chư Bồ Tát phải phụng trì pháp môn nầy ».

 

 Lúc bấy giờ vì cúng dường pháp nên tất cả đại chúng dùng hoa ngũ sắc rải lên Phật.

 

 Phật nói kinh nầy rồi, chư đại Bồ Tát, toàn thể chúng hội và Trời, Người, Bát bộ, nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog