Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 59



PHÁP HỘI BỒ TÁT KIẾN THIỆT

THỨ MƯỜI SÁU

 


PHẨM TỊNH PHẠN VƯƠNG ĐẾN PHẬT

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn ăn cơm rửa tay rửa bát xong, hiện thoại tướng. Tức thì Tỳ Sa Môn Thiên Vương cùng vô lượng na do tha trăm ngàn ức chúng Dạ Xoa vây quanh, như thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay từ thiên cung, hiện ra trước Phật lễ chưn Phật rồi đứng qua hướng Bắc trên hư không. Chúng Dạ Xoa trước sau vây quanh chắp tay cung kính Phật và chúng Tăng.

 

 Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương cùng vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng Càn Thát Bà vây quanh từ thiên cung hiện ra trước Phật lễ chưn Phật rồi đứng qua hướng Đông trên hư không, chúng Càn Thát Bà trước sau vây quanh chắp tay cung kính Phật và chúng Tăng.

 

 Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên Vương cùng vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng Cưu Bàn Trà vây quanh từ thiên cung hiện ra trước Phật lễ chưn Phật rồi đứng qua phương Nam trên hư không, chúng Cưu Bàn Trà trước sau vây quanh chắp tay cung kính Phật và Tăng.

 

 Tỳ Lâu Bát Xoa Thiên Vương cùng vô lượng trăm ngàn ức na do tha chư Long vây quanh từ thiên cung hiện ra trước Phật lễ chưn Phật rồi đứng qua phương Tây, trên hư không, chư Long trước sau vây quanh, chắp tay cung kính Phật và chúng Tỳ Kheo Tăng.

 

 Thích Đề Hoàn Nhơn Thiên Đế cùng vô lượng trăm ngàn ức na do tha chư Thiên vây quanh từ cung trời Đao Lợi hiện ra trước Phật lễ chưn Phật rồi đứng trên hư không chắp tay cung kính Như Lai và Tỳ Kheo Tăng.

 

 Dạ Ma Thiên Vương, Đâu Xuất Đà Thiên Vương, Hóa Lạc Thiên Vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Quang Âm Thiên Vương, Biến Tịnh Thiên Vương, Quảng Quả Thiên Vương, Tịnh Cư Thiên Vương đều cùng vô lượng trăm ngàn ức na do tha chư Thiên vây quanh, từ thiên cung hiện ra trước Phật lễ chưn Phật rồi đứng trên hư không chắp tay cung kính Như Lai và Tỳ Kheo Tăng.

 

 Tỳ Ma Chất Đa A Tu La Vương cùng sáu mươi na do tha quyến thuộc vây quanh, như thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay, từ cung điện mình hiện ra trước Phật, đảnh lễ chưn Phật, hiện tướng cung kính đứng qua một phía.

 

 Kim Sí Điểu Vương cùng tám vạn sáu ngàn chúng Ca Lâu La quyến thuộc vây quanh, từ cung điện mình hiện ra trước Phật đảnh lễ chưn Phật hiện tướng cung kính đứng qua một phía.

 

 Lại có tám ức các nhà ngoại đạo từ bốn phương đến mà nói kệ rằng :

 

 "Trong hư không thanh tịnh

 

 Vầng trăng tròn đêm rằm

 

 Vượt hơn các tinh tú

 

 Ánh sáng riêng chói rỡ

 

 Phật như trăng tròn sáng

 

 Diệt tối trừ ba cấu

 

 Hay siêu các ngoại đạo

 

 Dường trăng giữa hư không

 

 Mặt nhựt ngàn quang minh

 

 Hay trừ các tối tăm

 

 Vượt hơn ánh sáng trăng

 

 Làm nở ao hoa sen

 

 Phật quang hơn mặt nhựt

 

 Chiếu khắp cõi Đại Thiên

 

 Như Lai hay nở bày

 

 Rừng hoa sen Thanh Văn

 

 Thiên Chúa Kiều Thi Ca

 

 Ngồin tại nhà Thiện Pháp

 

 Vượt hơn chúng chư Thiên

 

 Chày kim cương chói rực

 

 Thập lực núi công đức

 

 Pháp Vương Lưỡng Túc Tôn

 

 Vượt hơn các ngoại đạo

 

 Dường như Thiên Đế Thích

 

 Tu Dạ Ma Thiên Vương

 

 Được chư Thiên cúng dường

 

 Ở trong hàng Thiên chúng

 

 Chói sáng ngồi bửu tọa

 

 Thập lực oai vô biên

 

 Vượt hơn các ác đạo

 

 Đức vô úy quang minh

 

 Nói rõ Bát chánh đạo

 

 Như Đâu Xuất Thiên Vương

 

 Chúng chư Thiên vây quanh

 

 Vượt hơn các Thiên chúng

 

 Đức lành mà chói sáng

 

 Điều Ngự Thầy Trời Người

 

 Được Bát Bộ chúng dường

 

 Vượt hơn các thế gian

 

 Vô úy nói pháp rõ

 

 Như Hóa Lạc Thiên Vương

 

 Ở tại trong thiên cung

 

 Vượt hơn chúng chư Thiên

 

 Công đức riêng sáng rõ

 

 Phật hơn các thế gian

 

 Rời được khỏi ba cõi

 

 Hay điều vua chưa điều

 

 Đủ thập lực sáng chói

 

 Như Tự Tại Thiên Vương

 

 Ở tại trong thiên cung

 

 Vượt hơn các Thiên chúng

 

 Đức lành mà rạng rỡ

 

 Phật quang minh như vậy

 

 Đầy đủ thập lực hành

 

 Vượt hơn chúng Trời Người

 

 Do công đức lành trước

 

 Như Đại Phạm Thiên Vương

 

 Vượt hơn các Phạm chúng

 

 Sáng rực lời ngọt hay

 

 Hiển bày đường Bát chánh

 

 Như Lai hơn Phạm Vương

 

 Vua trong chúng Sa Môn

 

 Quang minh soi ba cõi

 

 Chuyển pháp luân tứ đế

 

 Chúng tri kiến họp xong

 

 Trời Rồng Người nghe pháp

 

 Vua tối thắng Trời Người

 

 Tuyên nói đường Bát chánh

 

 Hư không đo lường được

 

 Biển lấy bình đong hết

 

 Núi Tu Di cân được

 

 Phật đức khó biết được".

 

 Bấy giờ Tịnh Phạn Vương nói với hàng Thích chủng rằng : "Nầy các Ngài ! Như mặt nhựt sắp mọc trước tiên hiện tướng sáng đẹp, như lúc sao mai mọc thì biết mặt nhựt sè mọc chẳng lâu. Cũng vậy, Ca Lưu Đà Di ở nơi đức Phật Như Lai Nhứt thiết chủng trí mà trước hiện tướng lành, Tỳ Kheo ấy nói công đức của Như Lai tức là tướng Nhứt thiết trí vậy. Các ông mau xếp đặt xe tốt, ta sẽ đến chỗ Phật ngự".

 

 Các Thích chủng tâu rằng : "Lành thay Đại vương ! Nay đã phải lúc, những thứ cần dùng nay đã lo xong".

 

 Vua lại truyền cho các quan từ thành Ca Tỳ La đến rừng Ni Câu Đà phải sửa sang đường xá, dùng cát mịn tốt trải đất, rải các thứ hoa treo những lục màu, trổi âm nhạc và các thứ ca vũ.

 

 Vua ngồi xe tốt xuất thành Ca Tỳ La thẳng đến vườn Ni Câu Đà. Sau xe vua có tám vạn bạch tượng cùng những châu báu xen lẫn trang nghiêm. Trên mỗi thớt tượng đều trần thiết tòa thất bửu rất lạ hi hữu. Sau đoàn voi, có tám vạn ngựa quí, trên mỗi ngựa quí đều có tràng vàng, ngựa và tràng đều trang nghiêm với bảy báu xinh đẹp đệ nhứt.

 

 Trong thành có vô lượng người nghiêm sức xe cộ : ngựa xanh xe xanh lọng xanh đao xanh y phục tất yên cương cả đều xanh cầm tràng xanh. Sau mỗi xe có trăm người y phục xanh đi theo. Vàng đỏ và trắng ba đội người ngựa ba màu kia cũng như vậy.

 

 Lại có hàng Thích chủng đều riêng nghiêm sức các thứ xe đẹp xanh vàng đỏ trắng : trang nghiêm nhiều màu, xe ngựa nhiều màu, nghiêm sức nhiều màu, mỗi xe ngựa đều có trăm người trang nghiêm nhiều màu.

 

 Đức Thế Tôn xa trông Tịnh Phạn Vương đến liền bảo chư Tỳ Kheo rằng : "Các ông muốn thấy chúng trời Đao Lợi đi dạo chơi thì nên xem Thích chủng xuất thành Ca Tỳ La. Tại sao ? Vì Thích chủng du hành cùng chư Thiên không khác".

 

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

 

 "Trong thành Ca Tỳ La Vệ kia

 

 Tịnh Phạn Đại Vương và quyến thuộc

 

 Tối Thắng Nhơn Vương hôm nay đến

 

 Lắng nghe lắng nghe Phật sẽ nói

 

 Tượng mã xe cộ hơn trăm ngàn

 

 Nhiều thứ trang nghiêm rất đẹp lạ

 

 Từ Ca Tỳ La mà dẫn ra

 

 Nhơn Vương bửu tạng và các xe

 

 Ngựa xanh xe xanh trang nghiêm xanh

 

 Y ohục người theo đều màu xanh

 

 Giày mang dao đeo thảy đều xanh

 

 Roi xanh cương xanh lạc lưới xanh

 

 Người áo xanh cầm phan lọng xanh

 

 Người ngựa đều xanh rất đẹp lạ

 

 Ngựa vàng xe vàng nghiêm sức vàng

 

 Người theo y phục đều màu vàng

 

 Giày mang dao đeo cũng đều vàng

 

 Roi vàng cương vàng lạc lưới vàng

 

 Người áo vàng cầm phan lọng vàng

 

 

 Người ngựa đều vàng rất đẹp lạ

 

 Ngựa đỏ xe đỏ nghiêm sức đỏ

 

 Người theo y phục đều màu đỏ

 

 Giày mang dao đeo cũng đều đỏ

 

 Roi đỏ cương đỏ lạc lưới đỏ

 

 Người áo đỏ cầm phan lọng đỏ

 

 Người ngựa đều đỏ rất đẹp lạ

 

 Ngựa trắng xe trắng trang nghiêm trắng

 

 Người theo y phục đều màu trắng

 

 Giày mang dao đeo cũng đều trắng

 

 Roi trắng cương trắng lạc lưới trắng

 

 Người áo trắng cầm phan lọng trắng

 

 Người ngựa đều trắng rất đẹp lạ

 

 Xe ngựa bốn màu trang nghiêm bốn

 

 Người theo y phục đều bốn màu

 

 Giày mang dao đeo cũng bốn màu

 

 Roi cương lạc lưới bốn màu đủ

 

 Người và phan lọng đều bốn màu

 

 Người ngựa bốn màu rất đẹp lạ

 

 Sau các xe kia trang nghiêm voi

 

 Số voi ấy đủ tám mươi ngàn

 

 Yên vàng nệm vàng trang nghiêm vàng

 

 Lưng voi đều có điện bảy báu

 

 Các thứ trang nghiêm ngựa rồng quí

 

 Số ngựa cũng đủ tám mươi ngàn

 

 Bảy báu trang nghiêm rất lạ đẹp

 

 Người phục sức đẹp theo sau xe

 

 Dùng những hoa đẹp rải đường ngự

 

 Dùng năm thứ hương làm thơm đất

 

 Treo những bình hương và lụa màu

 

 Tráng sĩ diễn trò đoàn ca vũ

 

 Nhiều thứ trang nghiêm khắp cả đường

 

 Hòa tấu âm nhạc theo sau vua".

 

 Tịnh Phạn Vương và đoàn tùy tùng đến vườn Ni Câu Đà xuống xe đi bộ vào.

 

 Đức Thế Tôn biết Phụ Vương từ lâu có lòng oán hận, vì độ Phụ Vương nên đức Phật bước lên hư không cao quá đầu người tự tại đi ra. Lúc đức Phật đi, bên hữu có Đại Phạm Thiên Vương, bên tả có Thiên Đế Thích, Dạ Ma Thiên Vương, Đâu Xuất Thiên Vương, Hóa Lạc Thiên Vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương đều cầm các thứ lọng trời cúng dường Như Lai.

 

 Bấy giờ Tỳ Sa Môn Thiên Vương và Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương ở phía Đông Như Lai quỳ gối chắp tay hiện tướng cung kính.

 

 Chúng chư Thiên các cõi trời Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại Thiên ở giữa hư không mưa hoa trời ưu bát la, mạn đà la và hương bột chiên đàn, tấu các âm nhạc và ca vũ, lại mưa nước thơm, từ trước tới nay chưa từng thấy sự cúng dường Như Lai như vậy.

 

 Đức Như Lai lại hiện thần thông, do sức thần của Phật làm cho mọi người đều thấy rõ tướng dạng chư Thiên.

 

 Tịnh Phạn Vương thấy chư Thiên Tử cúng dường Như Lai, vua sanh lòng hi hữu, lại thấy lâu đài thất bửu nghiêm sức đầy cả hư không, Vua nói rằng : "Đức Như Lai ngày xưa lúc còn là đồng tử chẳng sanh lòng cố luyến nơi ngôi Chuyển Luân Thánh Vương cai trị tứ thiên hạ. Nay đức Như Lai ở trong tam thiên Đại Thiên thế giới làm đại Pháp Vương có vô số Trời và Người thị vệ. Nay tôi tại đây làm người đứng quanh".

 

 Tịnh Phạn Vương trịch y vai hữu gối hữu chấm đất đầu mặt lễ chưn Phật chắp tay bạch Phật rằng : "Đức Thế Tôn lúc sơ sanh không người phò trì mà tự đi bảy bước nhìn ngó mười phương rồi

 mới nói lời này : Ta ở thế gian tối tôn tối thắng, sẽ được độ thoát bờ lão bịnh tử. Lúc đó tôi rập đầu lạy chưn Thế Tôn. Thời gian sau Thế Tôn đến thôn ruộng ngồi trong bóng mát dưới cây Diêm Phù, mặt trời dầu đã xế về Tây mà bóng cây vẫn ở nguyên chỗ, còn có chư Thiên đồng sáu cõi trời ở trước Thế Tôn chắp tay làm lễ, lúc đó tôi cúi đầu lễ chưn đức Thế Tôn. Hôm nay, lần thứ ba, tôi lại cũng đầu mặt lễ chưn đức Thế Tôn".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ rằng :

 

 "Lưỡng Túc Thế Tôn lúc sơ sanh

 

 Không người phò trì đi bảy bước

 

 Tự nói ta tối thắng trong đời

 

 Lúc ấy tôi lạy bực trí sáng

 

 Thế Tôn xuất thành đến thôn ruộng

 

 Bóng cây Diêm Phù che chẳng rời

 

 Lục thiên đồng tử dâng cúng dường

 

 Lúc ấy tôi lạy đấng Ứng Cúng

 

 Nay lần thứ ba tôi cúi lạy

 

 Cung kính đấng thương xót thế gian

 

 Đáng được Trời Người dâng cúng dường

 

 Đời không ai hơn được đức Phật

 

 Thế Tôn trước hiệu Tất Đạt Đa

 

 Tên ấy cha mẹ lấy làm mừng

 

 Mới biết Như Lai danh hiệu thiệt

 

 Được nguyện đầy đủ được cam lộ".

 

 Bấy giờ chư Thiên cõi dục vì đức Như Lai mà trải tòa sư tử, dùng thiên y vi diệu lót trên tòa và trải khắp vườn Ni Câu Đà, lại dùng thiên y kiếp ba thọ che giăng trên không. Đức Thế Tôn từ hư không xuống ngồi trên tòa sư tử. Tịnh Phạn Vương và quyến thuộc đầu mặt lạy chưn Phật rồi lui ngồi một phía. Chư Thiên cõi dục, cõi sắc cũng đảnh lễ đức Phật rồi lui ngồi một phía trên hư không.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

 

 "Tịnh Phạn Đại Vương và quyến thuộc

 

 Đến chỗ Thế Tôn dâng cúng dường

 

 Từ thành Ca Tỳ La Vệ ra

 

 Đến vườn khả ái Ni Câu Đà

 

 Phật cùng vô lượng chúng vây quanh

 

 A Tu La Vương và Long Vương

 

 Cưu Bàn Trà Vương Kim Sí Vương

 

 Càn Thát Bà Vương và quyến thuộc

 

 Dạ Xoa Đại Vương chúng quỉ thần

 

 Khẩn Na La Vương và Thiên Tử

 

 Tất cả đều sanh lòng mừng rỡ

 

 Dục giới lục thiên đã như vậy

 

 Sắc giới Phạm chúng Phụ Phạm Vương

 

 Quang Âm Biến Tịnh và quyến thuộc

 

 Nhẫn đến Quảng Quả Tịnh Cư Thiên

 

 Sa Môn đại chúng Bà La Môn

 

 Tăng Khư Vệ Thế Ni Kiền Tử

 

 Cùng các ngoại đạo tất cả phái

 

 Thuật sĩ tu hành các thứ lạ

 

 Đại chúng bốn phương đều đến họp

 

 Như Lai tự hiện đại thần thông

 

 Khiến Tịnh Phạn Vương và Thích chủng

 

 Đều được tín tâm lòng mừng rỡ

 

 Như Lai khắp vì tất cả chúng

 

 Dùng lời vi diệu câu nghĩa hay

 

 Như Lai ý tại Tịnh Phạn Vương

 

 Hiện hóa các thứ thần thông lực

 

 Vua vốn chẳng cho Phật xuất gia

 

 Tướng sư ngày trước đoán đồng tử

 

 Tại gia tất làm Chuyển Luân Vương

 

 Vô lượng Nhơn chúng đồng phục thị

 

 Đầy đủ Thánh Vương bảy thứ báu

 

 Cũng lại có đủ bốn thần thông

 

 Như pháp trị chánh gìn quốc độ

 

 Kim Luân gồm trị tứ thiên hạ

 

 Bấy giờ Bồ Tát nói lời nầy

 

 Ta xưa vô lượng do tha kiếp

 

 Tất cả thời gian thường nói thiệt

 

 Phụ Vương lắng nghe lời ta nói

 

 Phụ Vương từ xưa đối với ta

 

 Từ đầu thiệt không lòng tin kính

 

 Muốn đem Luân Vương bảo ta làm

 

 Đem tứ thiên hạ sánh luyến tiếc

 

 Ví như thuở xưa có thần qui

 

 Theo biển thủy triều lên lục địa

 

 Hải thủy triều ấy rút về biển

 

 Thần qui sa vào trong giếng sâu

 

 Trong giếng ba ba hỏi hải qui

 

 Người từ nơi nào nay đến đây

 

 Hải qui trí rộng nói ba ba

 

 Tôi theo thủy triều sa xuống giếng

 

 Lúc thủy triều kia rút về biển

 

 Tôi đi chậm chạp theo chẳng kịp

 

 Vì vậy nay tôi mất thời tiết

 

 Sa vào giếng nhỏ cùng anh ở

 

 Ba ba lại hỏi hải qui rằng

 

 Nước biển có nhiều hơn nước giếng

 

 Há lại rộng lớn hơn đây chăng

 

 Là lớn hay nhỏ xin nói lẹ

 

 Hải qui trí rộng bảo ba ba

 

 Anh ngu ở chỗ người đào bới

 

 Tôi ở trong nước biển cả kia

 

 Đã trải quá lâu nhiều năm tháng

 

 Còn chẳng biết được trong lòng biển

 

 Huống là thấu rõ bờ biển ấy

 

 Ngày xưa Phụ Vương điều chẳng biết

 

 Sức đại thần thông oai đức tôi

 

 Muốn đem Luân Vương tứ thiên hạ

 

 Hào quí trong đời quyến rũ ta

 

 Nay ta hiện làm Pháp Luân Vương

 

 Thống lãnh tam thiên Đại Thiên giới

 

 Như pháp chánh trị lìa vũ khí

 

 Được Bát Bộ chúng đồng cúng dường

 

 Nay ta xưng tụng lời ngày xưa

 

 Nên đến ứng hiện đại chúng nầy

 

 Dùng sức thần thông tu tâm mình

 

 Dùng niệm từ bi triệu tập chúng

 

 Tất cả các cõi đều vân hội

 

 Đồng muốn Phụ Vương được tịnh tín".




PHẨM A TU LA VƯƠNG THỌ KÝ

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn hiện thoại tướng. Do thoại tướng ấy nên A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa nghĩ rằng : Nay tôi cúng dường Phật trước nhứt.

 

 A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa cùng đồ chúng sáu mươi na do tha, quyến thuộc, phụ nữ cũng sáu mươi na do tha, đồng đem bửu châu vô giá và các vật quí trong biển dâng cúng đức Phật.

 

 A Tu La Vương ấy hóa làm sáu mươi na do tha xe thất bửu. Các bửu xa ấy lại hóa làm sáu mươi na do tha ngựa điều thuận, trên ngựa lại hóa lưới linh thất bửu để trang sức, chưn ngựa đeo linh xuyến bằng chơn kim, bờm và đuôi ngựa đều bao kết bằng thất bửu, dây cương bằng chơn kim, trên xe báu đều trang nghiêm với thất bửu, càng lọng đều bằng thất bửu. Các lọng thất bửu ấy ở trên hư không bay theo xe, dây linh treo trong lọng cũng bằng thất bửu, có lưới thất bửu giăng trùm lên trên lọng. Gió nhẹ thổi động xe ngựa và lọng thất bửu ấy phát ra tiếng vang vi diệu như trăm thứ nhạc do nhạc công giỏi đồng hòa tấu khiến ngưòi nghe vui vẻ, đoạt thị thính người, đoạt tâm ý người.

 

 Các xe ngựa thất bửu ấy ở trên không cách mặt đất sáu mươi do tuần, sau xe tấu âm nhạc, trên xe đều có A Tu La nữ trang sức rất đẹp. Các A Tu La nữ ấy, hoặc đứng vũ, hoặc ngồi vũ, hoặc xướng ca, hoặc thân động chuyển, hoặc rắc hương bột, hoặc rưới nước thơm, hoặc mưa các thứ hương mưa các thứ hoa mưa mạt vàng, hoặc rải hoa vàng hoa bạc hoa lưu ly hoa pha lê hoa xích chơn châu hoa mã não hoa xa cừ, hoặc cầm thất bửu rải, hoặc rải trang sức, tất cả đều để cúng dường đức Thế Tôn. Hoặc có A Tu La nữ rung động linh xuyến cho reo thành tiếng, hoặc đội vòng hoa thất bửu trang nghiêm với chơn kim, hoặc đội vòng hoa chơn kim trang nghiêm với thất bửu, hoặc cầm lưới chơn kim, hoặc cầm phan thất bửu,hoặc cầm lọng thất bửu, hoặc cầm tràng thất bửu, đều để cúng dường đức Thế Tôn.

 

 Lại có các A Tu la nữ chắp tay nói kệ tán thán rằng :

 

 Quy mạng Trượng Phu Điều Ngự Sư

 Quy mạng đấng Trượng Phu Tối Thắng

 Quy mạng Trượng Phu Lưỡng Túc Tôn

 Quy mạng Trượng Phu không ai sánh

 Quy mạng đấng soi sáng thế gian

 Quy mạng biển trí lớn tối thượng

 Quy mạng rừng đầy đủ công đức

 Quy mạng núi tối thắng vi diệu

 Quy mạng khối đầy đủ công đức

 Quy mạng người dứt sạch phiền não

 Quy mạng thầy tu các tịnh hạnh

 Quy mạng tịnh hạnh không đoạn tuyệt

 Quy mạng vô y không khiếp nhược

 Quy mạng không lười không tán điệu

 Quy mạng quyết định phát tinh tấn

 Quy mạng đấng quyết định đầy đủ.

 

 A Tu La Vương lại hóa làm sáu mươi na do tha màn trướng thất bửu vi diệu rất lạ nhiều màu trang nghiêm. Dưới mỗi màn trướng báu bay lững lờ ấy lại hóa sáu mươi na do tha đại địa thất bửu. Trên đại địa ấy đều hóa sáu mươi na do tha tường thành thất bửu. Trong mỗi tường thành hóa sáu mươi na do tha lâu đài cung điện thất bửu. Mỗi điện đường có sáu mươi na do tha cửa lớn cửa sổ thất bửu xen lẫn trang nghiêm. Trong mỗi điện đường có sáu mươi na do tha tòa sư tử thất bửu trải bửu y. Hai đầu sư tử tọa để gối đỏ, trước tọa có chiếc kỷ thất bửu trên để sáu ức bửu y của A Tu La Vương. Trên mỗi tòa sư tử đều có hai A Tu La nữ trang sức thất bửu đều cầm lá cây đa la thất bửu làm quạt hầu hai bên một hóa A Tu La tử ngồi trên ấy. Các điện đường ấy đều có sáu mươi na do tha tràng lọng thất bửu.

 Các màn trướng và điện đường thất bửu ấy ở trên không bay nhiễu bên hữu đức Phật ba vòng, rải các thứ hương, mưa các thứ hoa cúng dường đức Phật.

 Lúc ấy ngoài bốn cửa thành Ca Tỳ La đều rộng sáu mươi do tuần, do sức oai thần của A Tu La Vương phóng ánh sáng chiếu khắp sáu mươi do tuần, chiếu lên sáu vạn do tuần chu vi đầy khắp những đồ cúng dường. Các màn trướng lững lờ bay nhiễu quanh Phật rồi dừng lại.

 

 Lúc ấy trong thành Ca Tỳ La chứa hoa trời mạn đà la cao bảy trượng, nước thiên hương thành bùn. Do thần lực của Phật làm cho hơi thơm ấy khắp tam thiên Đại Thiên Đại thừa nghe hơi thơm ấy, người mới phát Bồ đề tâm cũng còn được bất thối chuyển huống là người đã tu lâu.

 

 A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa ngồi xe thất bửu nhiễu quanh Phật ba vòng dùng bột hương chiên đàn cõi trời rải lên trên đức Phật mà nói kệ rằng:

 

 "Nay tôi quy y Bà Già Bà

 Đấng ban Trời Người đức vô úy

 Quy y đấng tối thắng bất động

 Hi vọng vô thượng đại Bồ đề

 Nay tôi quy y Bà Già Bà

 Lòng mừng chẳng đọa ba ác đạo

 Thế nên nay tôi quy y Phật

 Mong cầu vô thượng đại Bồ đề

 Nay tôi quy y Bà Già Bà

 Đấng trừ sanh tử biển khổ lớn

 

 Hay dứt đồng hoang lìa phiền não

 Bực thầy hay dẫn đạo chúng sanh

 Nay tôi quy y Bà Già Bà

 Quy y Phật rồi chẳng cầu sanh

 Biển rất khổ bị già chết bức

 Thế Tôn là thầy của Trời Người".

 Nói kệ tán thán Phật rồi A Tu La Vương nhiễu Phật ba vòng.

 Các ngựa báu anh lạc trang nghiêm, các xe báu, các A Tu La, các A Tu La nữ, các tràng phan lọng báu linh lưới thất bửu bị gió thổi động vang ra tiếng vi diệu vui lòng đẹp dạ như cả trăm thứ nhạc hòa tấu rất hay.

 A Tu La Vương lại nhiễu Phật ba vòng, mưa hương bột chiên đàn cõi trời, hương bột ưu bát la, hương bột trầm thủy, hương bột đa ma la, các thứ hương bột a tu la từ trên không rơi xuống. Lại mưa các hoa trời mạn đà la, ma ha mạn đà la, mạn thù sa, ma ha mạn thù sa, ba lô sa ca, ma ha ba lô sa ca, ca ca la bà, ma ha ca sa la bà, ba tra lê, ma ha ba tra lê, chất đa la ba ra trê, ma ha chất đa la ba tra lê. Lại có các thứ hoa biến hóa, hoa vàng, hoa bạc, hoa lưu ly, hoa pha lê, hoa xích chơn châu, hoa xa cừ, hoa mã não từ trên không mưa xuống.

 Lại mưa nước thơm cõi trời, nước thơm A Tu La. Do vì nước thơm ấy nên thành Ca Tỳ La trong ngoài sáu mươi do tuần đều thành bùn thơm, hơi thơm ấy khắp tam thiên Đại Thiên thế giới. Bồ Tát được nghe hơi thơm ấy được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

 A Tu La Vương nhiễu Phật ba vòng, do thần lực đức Phật ở trong hư không trỗi âm nhạc trời và âm nhạc A Tu La. Các âm nhạc ấy do thần lực Phật nên vang khắp tam thiên Đại Thiên thế giới. Người tu Đại thừa nghe tiếng âm nhạc ấy được bất thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

 Vô lượng trăm ngàn A Tu La nữ, hoặc ca, hoặc vũ, hoặc tấu nhạc, hoặc thân chuyển động.

 Các A Tu La nữ lại rải các thứ hương bột, cõi trời và các thứ hoa trời, hoa biến hóa, hoa thất bửu để cúng dường đức Phật. Lại rải những y phục báu và những đồ trang sức thất bửu, các thứ hương bột, các thứ chơn châu để cúng dường Phật.

 

 A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa cùng các quyến thuộc đồng thanh nói kệ rằng:

 "Tâm tôi thường như vậy

 Gặp gỡ Phật Thế Tôn

 Vì qui y Như Lai

 Vị lai thường cúng dường".

 A Tu La Vương Ba La Đà bố thí cúng dường Phật cũng như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng rồi nói kệ rằng:

 "Tôi lạy đấng được thiệt thập lực

 Cũng lạy đấng vô úy tự tại

 Quyết định được những pháp bất cộng

 Quy mạng Đạo Sư các thế gian

 Tôi lạy đấng dứt trừ kiết sử

 Cũng lạy xuất ly đường sanh tử

 Đạo Sư dẫn dắt chúng sanh nghèo

 Tôi lạy trí sâu chẳng nghĩ bàn

 Cùng chúng hòa hiệp chẳng lay động

 Ở trong các loài tâm giải thoát

 Như hoa sen kia chẳng dính nước

 Thế Tôn vốn tu các pháp không

 

 Rời lìa lựa chọn được vô tướng

 Nơi tất cả chỗ không nguyện cầu

 Tôi lạy như không không chỗ nương".

 A Tu La Vương Thiện Tý trần thiết cúng dường quảng đại vô lượng như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng rải những lúa vàng chơn kim và nói kệ tán thán:

 "Đấng Đại Mâu Ni không ai sánh

 Trên trời dưới trời cũng vô tỉ

 Phật biết chúng sanh như dương diệm

 Chẳng phải thiệt chỉ là ý tưởng

 Nơi đây không người làm người thọ

 Cũng không sĩ phu không vô ngã

 Rời lìa tạo tác không thể tánh

 Tuyên nói tất cả pháp tịch địch

 Tin hiểu được nơi pháp Như Lai

 Quán tất cả pháp đều bình đẳng

 Người ấy sẽ được làm Phật tử

 Thuận lời Phật dạy như cha mẹ

 Nay tôi khen ngợi phước đã được

 Tôi đem phước đức của tôi có

 Hồi thí chúng sanh đều làm Phật".

 

 

 A Tu La Vương Bạt Trì Tỳ Lô Giá Na trần thiết cúng dường như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng dùng hoa chất da la ba tra lê rải cúng dường Phật rồi nói kệ tán thán rằng:

 "Đại Tiên Như Lai thân thần diệu

 Vượt hơn tất cả các Trời Người

 Đã như Tu Di so hột cải

 Lại giống biển lớn sánh dấu trâu

 Nhan dung Như Lai rất đoan chánh

 Nhiều tướng trang nghiêm tối đệ nhứt

 Vượt hơn tất cả các màu sắc

 Như mặt nhựt mọc lửa đóm lu

 Thế Tôn khối vô lượng oai đức

 Khiến các oai đức chẳng hiện được

 Như mặt nhựt mọc sáng đóm mờ

 Đại Thánh Thế Tôn biển trí lớn

 Vượt hơn trùm khắp cả ba cõi

 Che các ngoại đạo khiến chẳng hiện

 Như mặt trời sáng khuất ánh trăng".

 

 

 A Tu La Vương Diệm Bà Lợi trần thiết cúng dường như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng, dùng hoa ma ha ba tra lê rải cúng Phật rồi nói kệ tán thán rằng:

 "Bực trí huệ thích xa ma tha

 Trừ được ba độc tham sân si

 Dẫn dắt chúng sanh xuất thế gian

 Như mưa rào tắt lửa lắng bụi

 Thế Tôn hừng hực mắt chánh pháp

 Cũng như dầu tô tưới lửa hừng

 Hay dứt phiền não lưới nghi hết

 Cũng như lửa đốt đồng hoang lớn

 Nhan dung đoan chánh rất vi diệu

 Các tướng trang nghiêm tối đệ nhất

 Vượt hơn tất cả các diệu sắc

 Như mặt nhựt mọc sáng đóm mờ

 Như Lai nắm cầm các thiện căn

 Vô lượng ức vạn na do tha

 Hay trừ phiền não và nghiệp ác

 Như ăn cam lộ trừ thân độc

 Thổi trừ tất cả tối vô minh

 Như đêm đuốc sáng soi hắc ám

 

 Như Lai thị hiện mắt chánh pháp

 Dường như thợ ngọc rõ giá ngọc".

 A Tu La Vương Lạc Chiến trần thiết cúng dường như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng rải những hoa báu nói kệ tán thán rằng:

 "Ác tâm khó điều Phật điều được

 Như dũng sĩ mạnh hàng giặc dữ

 Khéo được nhu nhuyến tâm tự tại

 Tôi lạy đấng vô úy tâm điều

 Ủiều được các căn lìa oán thù

 Rời úy vô úy được an ổn

 Thế Tôn phiền não chẳng còn phát

 Trừ dứt độc hại đều không thừa

 Sức na la diên khéo tu từ

 Ở trong yêu ghét lòng bình đẳng

 Như Lai biết ý tưởng chúng sanh

 Chẳng bị sáu đường nắm giữ được

 Rời lìa tâm tưởng hết tham ái

 Phóng sáng trí huệ phá tối tăm

 Ở trong các pháp lòng chẳng chấp

 Thế Tôn siêu quá không ai sánh".

 

 A Tu La Vương Thiện Nhựt trần thiết cúng dường như Tỳ Ma Chất Đa A Tu La Vương, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng dâng các bửu tạng lên Phật nói kệ tán thán rằng:

 

 "Đại Hùng biết từ lâu

 Thiệt tướng của các pháp

 Đó là tên các pháp

 Đều riêng hòa hiệp giả

 Thể của tất cả pháp

 Các cách cầu chẳng được

 Nói rằng là pháp nầy

 Nói đều là giả danh

 Lìa danh gọi thể tánh

 Các tướng cũng như vậy

 Không tướng cũng không danh

 Đã lìa ba thứ pháp

 Nói rằng là giải thoát

 Thiệt thì không chỉ được

 Người nói nói cũng không

 Người hiểu cũng là không

 Biết các pháp như vậy

 Đấng Mâu Ni vô thượng

 Chẳng chấp nơi các pháp

 Tu hành danh xưng lớn".

 

 A Tu La Vương Phục Tam Giới trần thiết cúng dường như Tỳ Ma Chất Đa A Tu La Vương, ngồi xe thất bửu nhiễu quanh Phật ba vòng dâng chơn châu anh lạc lên Phật nói kệ tán thán rằng:

 

 "Nay tôi khen Phật lìa oán địch

 Dung nhan đoan chánh sức giới trí

 Tất cả thế gian không như Phật

 Dùng thân vô tỉ phục thù địch

 Sắc lực quang minh chiếu ba cõi

 Tu các nghiệp lành được tướng tốt

 Tám mươi tùy hảo đều nghiêm tịnh

 Sức trì tịnh giới không bị động

 Người trí suy lường chẳng biết được

 Vì Phật trì giới tâm thanh tịnh

 Nên được thành đấng Phật Thế Tôn

 Trí lực của Phật không còn sánh

 Vì không bố úy hơn ba cõi

 Như vua sư tử rống giữa rừng

 Vượt hơn tất cả các ngoại đạo".

 

 

 A Tu La Vương Tỳ Lô Giá Na trần thiết cúng dường như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng tay cầm các báu rải trên Phật mà tán thán rằng:

 "Đại chúng đều họp chỗ Mâu Ni

 Tịnh tâm chiêm ngưỡng mặt Như Lai

 Tất cả hiện tiền thấy Thế Tôn

 Đây là tướng bất cộng của Phật

 Phật dùng một âm diễn thuyết pháp

 Mọi loài tùy tâm đều được hiểu

 Phật thuyết pháp đúng cơ chúng sanh

 Đây là tướng bất cộng của Phật

 Phật dùng một âm diễn thuyết pháp

 Chúng sanh tùy loài đều được hiểu

 Xứng ý mong muốn biết rõ nghĩa

 Đây là tướng bất cộng của Phật

 Phật dùng một âm diễn thuyết pháp

 Hoặc có tu tấn hoặc điều phục

 Hoặc có chứng được quả vô học

 Đây là tướng bất cộng của Phật".

 A Tu La Vương Mục Chơn Lân Đà trần thiết cúng dường như A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa, ngồi xe thất bửu nhiễu Phật ba vòng tay cầm xích chơn châu rải lên Phật nói kệ tán thán rằng:

 "Tâm tịnh vui mừng kính tin Phật

 Rời lìa ngạo mạn không tà kiến

 Thuận Phật A Hàm chẳng phóng dật

 Đây là bực tu hành vô tỷ

 Các pháp tự tánh bất khả khả đắc

 Như mộng hành dục thảy đều hư

 Chỉ theo ý tưởng chẳng thiệt có

 Thế Tôn biết pháp cũng như vậy

 Như mây mùa thu trăng trong nước

 Mê hoặc chúng sanh ngu vô trí

 Chẳng mê hoặc được người mắt sáng

 Tinh tấn rất ưa Phật chánh pháp

 Người diệu rất diệu chẳng sai lầm

 Ở trong Phật pháp chẳng phóng dật

 Phân biệt các pháp đều như mộng

 Được thấy như thiệt diệu tam muội".

 Bấy giờ các A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Đa v.v... có sáu mươi na do tha A Tu La trần thiết cúng dường rồi, thảy đều chắp tay làm lễ đứng yên, mừng vui hớn hở tình ý tràn đầy vui mừng vừa lòng, tâm nguyện Bồ Đề nối tiếp chẳng tuyệt.

 Đức Thế Tôn biết các A Tu La tín tâm cúng dường rồi, theo pháp chư Phật mà thị hiện tướng mỉm cười. Từ diện môn của Phật phóng ra vô lượng tia sáng màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng tía pha lê vàng bạc và màu lẫn lộn. Từ miệng phóng ra rồi, các tia sáng màu ấy nhiễu Phật ba vòng trở về nhập vào đảnh Phật.

 Huệ Mạng Mã Thắng Tỳ Kheo đứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất chắp tay làm lễ rồi nói kệ hỏi Phật rằng:

 "Hùng mãnh Mâu Ni hiện thoại tướng

 Thương thế gian chẳng phải không nhơn

 Thế Tôn tối thắng xin nói cho

 Nhơn duyên gì Đại Tiên hiện tướng

 Thương xót chúng sanh hiện thoại ứng

 Thấy các Tu la cúng dường lớn

 Muốn thọ ký cho A Tu La

 Khiến đại chúng tôi được vui vẻ

 Nay có thắng tâm tin chẳng nghi

 Trong chúng đây có người phát tâm

 

 Thế Tôn biết tín căn họ rồi

 Thiền Nhơn Đạo Sư hiện tướng ấy

 Ngày nay ai phát tâm thanh tịnh

 Trong đại chúng ai sanh thắng tín

 Thế Tôn biết tín căn họ rồi

 Hiện thoại tướng mỉm cười tối diệu

 Nay đại chúng đây muốn biết rõ

 Đều thấy Như Lai hiện mỉm cười

 Hôm nay ai lại hàng ma oán

 Phật hiện mỉm cười vì người ấy

 Lành thay Đại Tiên hàng ma oán

 Mong dứt lòng nghi của đại chúng

 Nguyện Phật nói mau chớ chần chờ

 Cho đại chúng đây được biết rõ".

 Thế Tôn nói kệ đáp Mã Thắng Tỳ Kheo rằng:

 "Lành thay nghĩa hỏi của Tỳ Kheo

 Phật hiện thoại tướng lợi thế gian

 Phật nói quả báo không có thừa

 Nay ông nhứt tâm khéo lắng nghe

 Các A Tu La cúng dường Phật

 Để cầu Vô thượng thắng Bồ Đề

 Tâm ý Tu La không chỗ nương

 

 Như tay tại hư không chẳng chướng

 Tu La cúng dường Thế Tôn rồi

 Tâm ý chúng ấy đều thanh tịnh

 Đại trí đều bỏ đạo Tu La

 Với Trời Người từ lâu đã thích

 Chúng ấy ở đời vị lai sau

 Gặp gỡ hằng sa đại Đạo Sư

 Ở kiếp Thiện Danh được thành Phật

 Chư Phật ấy đồng hiệu Thiện Danh

 Số đúng sáu mươi na do tha

 Danh chấn mười phương soi thế gian

 Diễn nói pháp vô y vô trước

 Hay rộng độ thoát chúng Nhơn Thiên

 Các Phật độ ấy rất nghiêm tịnh

 Phật biết thế gian rời ngũ trược

 Tịnh Phật quốc độ ba ngàn cõi

 Số đúng sáu mươi na do tha

 Nước kia chẳng có ba ác đạo

 Do lòng mừng vui đất ruộng sạch

 Phật kia hùng mãnh Vô thượng Đại thừa

 Chư Như Lai kia được thọ mạng

 Ở đời sáu mươi do tha kiếp

 Diễn nói pháp không nơi y chỉ

 Mỗi mỗi Như Lai đều cũng vậy

 Sau khi Như Lai kia diệt độ

 Thế gian người trí đều cũng diệt

 Đủ số sáu mươi do tha kiếp

 Chánh pháp Phật ấy còn tại thế

 Chư Như Lai ấy đều riêng độ

 Số chúng sanh đông như hằng sa

 Chư Như Lai ấy số vô lượng

 Cõi thọ chánh pháp trụ cũng vậy

 Chư Như Lai kia hay thành thục

 Sáu mươi do tha số chúng sanh

 Đều khiến an trụ trong Đại thừa

 Thảy đều nối tiếp giống Tam bảo

 Hôm nay thọ ký cho Tu La

 Đấng Đại Tiên độ đời tuyên nói

 Trời Người nghe thọ ký nầy rồi

 Thâm tâm hớn hở được tịnh tín"




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog