Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

KINH ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 3

 


PHÁP HỘI

TAM TỤ LUẬT NGHI

THỨ NHẤT


Phật bảo Đại Ca Diếp: “Nếu có Tỳ Kheo hoặc người nào có thể trọn nên pháp đệ nhứt nầy mà cầu pháp vô lậu, thời nên bảo rằng: đối với tất cả pháp, tâm không chỗ trụ.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Bồ Tát phải kiên cố tu tập.

Thế nào là kiên cố? Thế nào là tu tập?

Kiên cố là tâm kiên cố và tinh tấn kiên cố.

 

Thế nào gọi là tâm kiên cố? Bồ Tát nghĩ rằng: cúng dường một đức Phật nhẫn đến cúng dường cả hằng hà sa số chư Phật rồi sau mới phát một niệm cầu Phật đạo, sau đó lại trải qua hằng hà sa số kiếp có một đức Phật hiện ra đời, vì phát hằng hà sa số tâm nguyện nên một lần được thọ thân người, nhẫn đến thọ hằng hà sa số thân người nghe pháp một câu phát trí huệ sáng suốt, được lợi ích lớn nơi đạo Vô thượng Bồ đề.

 

Bồ Tát nên phát tâm kiên cố như vậy.

 

Bồ Tát lại dùng nhiều phương tiện để nhiếp lấy trí huệ của Phật, dùng nhiều khổ hạnh để trông cầu, nhiều khổ hạnh để nhiếp thọ Phật trí. Bồ Tát phải có tâm kiên cố như vậy.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Nay Phật vì ông mà nói ví dụ. Những người trí do ví dụ mà được hiểu nghĩa trên đây nói về sự nhờ nhiều khổ hạnh mà có thể được Vô thượng Bồ đề, trải qua hằng hà sa số kiếp không nên thôi nghỉ. Nếu hằng hà sa số kiếp học tập mãi không thôi nghỉ, thời có thể hiện chứng Vô thượng Bồ đề. Bồ Tát nên phát tâm kiên cố như vậy để thêm thế lực sách tấn, vĩnh viễn không rời bỏ đạo Vô thượng Bồ đề.

 

Bồ Tát đã phát tâm như vậy, đối với phải chỗ không phải chỗ chẳng nên chấp lấy. Vì chấp lấy thời trở ngại đạo Vô thượng. Nếu Bồ Tát không chấp lấy phải chỗ không phải chỗ thời sớm được Vô thượng Bồ đề.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Ví như có người đem của báu đầy cả Đại Thiên thế giới dùng bố thí. Nếu có người tin và thọ trì kinh điển thuận Bồ đề của Phật nói, thời phước của người này hơn người bố thí kia.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Bồ Tát lại có tâm kiên cố, nhẫn đến tâm kiên cố này cũng bất khả đắc. Do đây sự tu hành của Bồ Tát chẳng nên thôi nghỉ.

 

Bồ Tát phải tu tập nhiều đến bao nhiêu? Tùy có bao nhiêu pháp tu tập. Nếu còn có một niệm không thể thấu rõ thời đều phải tu tập. Vì những pháp tu tập đó không biểu thị được, dầu vậy nhưng là pháp tu tập tối thắng, nghĩa là tâm tánh kiên cố vậy”.

 

Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Vô tâm, khởi tâm tưởng

Sẽ có bố úy lớn,

Ta sẽ thành, chẳng thành?

Việc này sẽ thế nào?

Do thường suy thường nghĩ

Kẹt ở nơi một bên

Hủy báng đạo chánh pháp

Nên chẳng được Bồ đề.

Đây là tâm giải đãi

Chẳng phải tướng Bồ đề

Người nầy nghi tất cả

Nghi Phật đến Thanh Văn.

Chẳng tu mà mong cầu

Thánh Hiền các Phật pháp,

Chẳng phải do ngôn thuyết

Thành được quả an lạc.

Cần phải có tin ưa

Mới thành được đại pháp,

Chẳng phải chỉ tâm lường

Mà được pháp thắng diệu.

Do một pháp thành được

Tất cả hạnh đã tu,

Biết thắng pháp kia rồi

Vì Phật nên siêng tu.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Do có thể thành tựu pháp này, Bồ Tát không gần gũi cúng dường chư Phật, tự biết chắc rằng tôi sẽ thành Vô thượng Chánh giác.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia có ba pháp tu tập có thể lợi ích đạo Bồ đề: vì nhứt thiết trí nên tin sâu phát nguyện, chẳng đắm trước nghiệp tại gia và giữ chắc năm giới.

 

Bồ Tát tại gia có đủ ba điều trên thời có thể thành sáu pháp: được báo hiền thánh, chẳng câm, chẳng ngọng, chẳng điếc, nghe pháp mau hiểu, đi đứng đoan nghiêm, lòng tin sâu chắc, nơi pháp thậm thâm chẳng kinh sợ, khi nghe pháp dễ hiểu dễ ngộ và mau được bực bất thối.

 

Đối với sáu pháp trên đây, phải khéo biết có năm điều chướng: lời ly gián, vọng ngữ, không có chí nguyện, tật đố và đắm trước ngũ dục.

 

Bồ Tát tại gia lại có ba pháp cần tu hành: thường có lòng muốn xuất gia, nên phải cung kính tôn trọng các bực Sa Môn, Bà La Môn, nếu người thuyết pháp chẳng phải đồng loại thời nên lánh xa, vì chẳng nên học tập theo những pháp tà ngoại chẳng phải Phật đạo.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Bồ Tát lại phải tu học ba pháp: thường tùy thuận chư Phật, vì giảng dạy người khác nên tự mình siêng tu hành, tập rèn lòng từ đối với chúng sanh.

 

Bồ Tát lại phải gần gũi ba pháp: lìa hẳn sự đánh đập, chẳng mắng nhiếc người và ban sự vô úy cho người đương kinh sợ”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Chẳng gần người hạ liệt

Thấy người chẳng chánh trực

Liền phải gấp lánh xa

Như lánh xa rắn độc.

Chẳng theo học đạo khác

Phi lễ phải xa lìa

Dường như thấy chó điên

Vì phải đọa ác đạo.

Nếu chấp trước theo người

Đồng họ đi đường ác

Nghe pháp “không” thắng diệu

Phải có lòng thích ưa.

Với Tỳ Kheo không tịch

Nên cung kính tôn thờ

Thêm lớn sự đa văn

Mà được sanh trí huệ.

Bực gần gũi Bồ đề

Mọi người phải kính lễ

Gặp qua để học hỏi

Sớm sanh những căn lành.

Muốn trí huệ thêm lên

Như hoa sen trong nước

Phải nghe nhiều chánh pháp

Căn lành lớn càng thêm.

Do trí huệ thêm nhiều

Có thể dứt hữu lậu

Thành oai đức vô úy

Đại trí rất tinh cần

Vì lợi ích mọi người

Tự mình thành lợi ích,

Người tại gia phải bỏ

Đừøng đánh đập chúng sanh.

Phát tâm cầu Bồ đề

Nơi pháp không thối chuyển,

Thân không bịnh, xinh đẹp

Mọi người điều kính ưa.

Nếu tu tập lòng từ

Thoát khỏi ba ác đạo,

Cõi trời Đao Lợi kia

Hưởng quả vui sung sướng.

Thân trời nếu đã chết

Chẳng sa đọa tam đồ

Sẽ sanh trong loài người

Nơi nhà sang tôn quí,

Thân đoan nghiêm xinh đẹp

Chẳng bị người khinh chê,

Thiên, Long theo hộ trì

Tu hành đúng chánh pháp,

Thọ hưởng nơi thắng diệu

Người kính trọng mến thương,

Giấc ngủ được an lành

Lúc thức lòng an ổn,

Vì chư Thiên ủng hộ

Nên chẳng sợ chẳng kinh,

Pháp rộng lớn trên đây

Nhiều lợi ích như vậy.

Hàng tại gia xuất gia

Lại có lợi ích lớn

Làm nẩy nở trí huệ

Căn lành cho mọi người,

Người sợ làm cho an

Đưa đến Vô thượng quả.

Chỉ cầu nhứt thiết trí

Chẳng mong mỏi cõi trời,

Người này được tương ưng

Chánh đạo cùng chánh huệ,

Vì có căn lành này

Chẳng còn sa ác đạo.

Được trí được tam minh

Khéo học ba vô lậu

Trọn nên những công đức

Như chư Phật đã thành.

Đấng tôn quí trong đời

Mọi người cung kính lễ

Người lễ kính Như Lai

Là bực nhứt trong chúng.

Nếu người còn tại gia

Phát được tâm Vô thượng

Vì họ nói pháp yếu

Ông nên lắng nghe đây.

 

Nầy Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia phải có ba điều: xa lìa những sự buông lung chơi bời theo thế gian, cho tặng lẫn nhau cùng lựa chọn ngày lành giờ tốt, nên thanh khiết tránh nhận lãnh nhiều và phải nên tinh tấn siêng học chánh pháp.

 

Hàng tại gia lại phải ba điều: chẳng trở ngại người thuyết pháp, phải khuyến thỉnh người thuyết pháp và thường thắp đèn đuốc.

 

Và trọn chẳng được làm ba điều này, nếu làm thời sẽ mang thân phụ nữ: chẳng được ngăn trở mẹ đến nghe chánh pháp và ra mắt Tỳ Kheo, chẳng được ngăn trở vợ ra mắt Tỳ Kheo và đi nghe chánh pháp; chẳng được phạm chỗ phi đạo của vợ”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Nên thường có lòng tin

5Thắp sáng đèn với đuốc

Bèn được đôi mắt Phật

Thanh tịnh không cấu nhơ.

Do nơi mắt thanh tịnh

Rõ các pháp sở tri

Vì rõ được sở tri

Nên biết pháp quá khứ

Biết hiện tại cũng vậy

Chẳng phân biệt vị lai

Không có ba thứ tướng.

Có ba thứ tướng này

Bỏ lìa tướng thứ ba.

Tướng gọi là vô tướng

Đều đồng là một nghĩa.

Phật dầu nói chư căn

Nhưng pháp không căn bản

Nơi đây sanh phân biệt

Thời mất đạo Bồ đề.

Tịnh tu Phật nhãõn rồi

Hiện chứng tất cả pháp

Câu đây là Bồ đề

như vừa rồi khai thị.

Pháp không khai thị được

Cũng không hủy hoại được

Các pháp như hư không

Nên nói là khai thị.

Phật tuyên nói nghĩa này

Để dạy chúng tại gia

Thường thắp sáng đèn đuốc

Được Phật nhãn rõ ràng.

Chẳng chướng người thuyết pháp

Giáo pháp của Thích Ca

Trọn chẳng vào tam đồ

Chẳng mắc sanh manh báo.

Thường hay cầu thỉnh người

Tuyên dương pháp tối thắng

Do sức căn lành này

Chuyển pháp luân Vô thượng.

Nếu có người với mẹ

Ngăn trở nghe pháp lành

Thọ thân nữ xấu xa

Đui gù nhiều tội lỗi,

Chẳng thấy được màu sắc

Cũng chẳng nghe tiếng tăm

Ở nơi chỗ tối tăm

Không khác loài dơi chuột.

Với vợ sanh đố kî

Ngăn trở việc tu hành

Mãn thọ sau khi chết

Sẽ mang thân gái xấu:

Tóc vàng, tròng mắt xanh

Đen điu mắt mù lòa

Chưn què, lòng độc ác

Tai điếc, miệng nhiều lời,

Nhiều tội lỗi như đây

Sớm có thân xấu ác

Do dục nhiễm nhân duyên

Mà bị chồng ghen ghét.

 

Này Đại Ca Diếp! Tại gia Bồ Tát không nên làm ba điều này: những đồ vật bố thí của người khác không luận nhiều ít tốt xấu, nếu người chủ chẳng mời thỉnh thời chẳng nên đem bố thí, người khác muốn xuất gia chẳng được làm trở ngại, còn người chưa xuất gia nên khuyên bảo xuất gia, thấy người xây dựng chùa tháp nên trợ giúp, chẳng được nhơn việc xây cất mà lạm lấy tiền của hay đồ vật”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

Của cải người bố thí

Không phải chỗ chẳng cho

Chỗ thí chẳng được ngăn

Lạm dụng thời mắc tội

Nên ở trước thí chủ

Vòng tay đứng thẳng ngay,

Trong đây nếu thiếu người

Cung cấp cho tăng chúng,

Phải theo lời thí chủ

Đem công giúp cho người,

Đồ uống cùng món ăn

Nhẫn đến thứ rẻ mọn

Đúng theo lòng thí chủ

Chớ để họ oán hờn.

Nếu ai muốn xuất gia

Hoặc con hoặc quyến thuộc

Bồ Tát nên thuận theo

Chẳng nên làm trở ngại.

Nguyện chúng sanh an lạc

Nguyện đặng chứng Niết Bàn

Bổn nguyện tôi được tròn

Nguyện thuyết pháp vô thượng.

Lúc biết mình có lỗi

Chớ để thân tâm nhơ

Chớ mãi mãi lo rầu

Mà bị phiền não nhiễm.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia lại chẳng nên làm ba điều này: chẳng nên buôn bán người nam người nữ, chẳng nên đem thuốc độc cho người, chẳng nên gần gũi những người làm các việc trên”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Chớ buôn bán người nam

Chẳng buôn bán người nữ

Thuốc độc chớ cho người

Người làm phải tránh xa.

Vì làm khổ chúng sanh

Chư Thiên thừng quở trách,

Không luận đến xứ nào

Lòng lo sợ bị hại.

Hằng ngày thêm buồn lo

Nạn khổ bức thân thể

Chết yểu tự diệt vong

Do đây chẳng nên phạm.

Lỗi nầy và tội khác

Phật biết rõ nguyên nhơn

Lược nói một ít phần

Dạy răn chư Bồ Tát.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia lại chẳng nên làm ba điều dưới đây: chẳng nên đến nhà dâm nữ, chẳng nên gần gũi những người mai mối, chẳng ở chỗ hàng thịt sát sanh”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Chẳng đến nhà dâm nữ

Nơi nhơ uế buông lung

Người đời sẽ chê bai

Vì gần gũi tệ dục

Đế đó, người trí biết

Ắt quở tách rầy la

Chiêu họa hại thân mình

Do đây thườn chết sớm.

Lại chẳng nên gần gũi

Kẻ mai mối gái trai

Người cưới vợ lấy chồng

Gần họ bị khi dễ.

Nhà sát sanh hàng thịt

Cũng phải chánh chớ qua

Nơi đó người khôn ngoan

Không bao giờ ca ngợi.

Những tội lỗi sâu nặng

Như Lai biết rõ ràng

Vì những người lỗi lầm

Nay Phật nói như thật.

Giáo pháp của Phật dạy

Để tử Phật phải rành

Đúng theo pháp thọ trì

Chỗ tu hành kết quả.

Chúng sanh tu thánh đạo

Mau đến quả Niết Bàn

Phật giảng cho hạng này

Chẳng phải vì người ác.

 

Này Đại Ca Diếp! Có ba điều Bồ Tát tại gia phải thật hành: ở nhà nên quan sát thân mạng của mình giả tạm như khách; với của cải đã bố thí có quan niệm như được chứa cất, với của cải chưa bố thí xem như xa lìa ta cả trăm do tuần, chẳng có quan niệm chứa của để cho vợ con”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Thường quan sát sự chết

Mạng tôi chẳng còn lâu

Sản nghiệp cùng của tiền

Nên thí gieo phước đức.

Của chẳng để vợ con

Cũng chẳng vì thân mình

Đem bố thí cho người

Được phước đức bền chắc.

Ân cần cầu Phật đạo

Chẳng sanh lòng cống cao

Nếu rời các pháp lành

Thường mang lấy tổn hại.

Như trẻ thơ đùa giỡn

Ăn chút ít chẳng no

Pháp vị còn mỏng manh

Dầu tin nhưng khó vững.

Nếu tu chẳng dõng mãnh

Cách đạo thiệt xa vời,

Hoằng pháp nếu chẳng thôi

Gọi là pháp rốt ráo.

Nay Phật vì đại chúng

Nói những pháp môn này

Nếu ai hiểu rõ ràng

Là bực nhứt thiết trí.

Dùng trí khéo quan sát

Lòng nhàm lìa nơi thân

Thường chánh niệm tư duy

Thời như đối trước Phật.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia thành tựu được ba pháp dưới đây thời chẳng thối chuyển đạo Vô thượng Bồ đề: Cha mẹ chẳng tin Tam Bảo thời làm cho cha mẹ có lng tin, cha mẹ hủy phạm giới pháp thời khuyên cha mẹ giũ giới, cha mẹ tham lam bỏn sẻn thời khuyên cha mẹ bố thí, khen ngợi đạo Vô thượng Bồ đề mà vì người khác thuyết pháp, đây là pháp thứ nhứt được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

 

Bồ Tát tại gia biết rõ đáng cúng dường cùng chẳng đáng cúng dường, cúng dường cho người đáng cúùng, chẳng cúng dường cho người không đáng cúng, dầu chẳng cúng nhưng vẫn có lòng từ đối với họ, đây là pháp thứ hai được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

 

Bồ Tát tại gia nhọc nhằn làm ra của cải, chẳng phung phí, chẳng để thất phát, chẳng đem cho bừa bãi, phải nên cất giữ kỹ lưỡng. dầu vậy, nhưng đối với các bực Sa Môn, Bà La Môn thanh tịnh cùng các chúng sanh, vẫn bình đẳng bố thí cúng dường, và không làm chướng ngại những người đồng bố thí. Đây là pháp thứ ba được chẳng thối chuyển Đạo vô thượng Bồ đề”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Hàng tại gia Bồ Tát

Cầu Vô thượng Bồ đề

Trọn nên ba căn lành

Thẳng lên Vô thượng giác.

Cha mẹ đối Tam Bảo

Tà kiến không lòng tin

Khuyên cho phát tín tâm

Khiến trụ nơi thắng pháp

Cha mẹ tham bỏn sẻn

Khuyên bố thí làm lành

Phạm giới khuyên giữ gìn

Cũng khuyên tu trí huệ.

Bốn phương nên đi khắp

Thỉnh cầu các pháp sư

Thuyết pháp để độ người

Do đây thêm trí huệ.

Phạm giới khiến giữ giới

Chưa tin khiến được tin

Không huệ khiến chuyên tu

Do đây được bất thối.

Gặp Tỳ Kheo trí huệ

Giữ giới học rộng nhiều

Nên cung kính theo gần

Để thường thường học hỏi,

Do đây hàng cư sĩ

Được bất thối Bồ đề.

Gặp người đức sâu dầy

Hiểu đạo nhiều trí huệ,

Bực này đáng tôn trọng

Thân của đem cúng dường.

Tiêu biểu lònn kính tin

Trước kia Phật từng nói:

Không tin thời không được

Phát đại Bồ đề tâm,

Trí huệ thấy pháp mầu

Mau nên lợi ích lớn,

Ở nơi các pháp diệu

Chứng nhập chẳng khó khăn.

Biết mình cũng biết người

Nơi đây được lợi lớn,

Tương ưng pháp xuất thế

Nên trí huệ càng thêm.

Bao nhiêu những của tiền

Xưa nay thường chứa nhóm

Không phải gìn giữ mãi

Đem bố thí người tu.

Tiền của được sau này

Cũng mang ra bố thí

Bố thí thường tinh tấn

Phật quả ắt mau thành.

Trì giới cùng chúng sanh

Từ tâm đồng bố thí

Bố thí lòng trong sạch

Trọn không chút mong cầu,

Bạc tiền đến ngọc vàng

Đều vui lòng thí cả

Dõng mãnh thí tất cả

Những công hạnh đã làm

Hồi hướng Vô thượng thừa

Bồ đề đại giác đạo.

Cúng dường nếu phi pháp

Dầu bố thí Nhơn, Thiên

Chẳng bằng thuận pháp lành

Cho một người hèn khó.

Tinh tấn vì cầu pháp

Nhờ pháp được tỏ thông

Thắng đạo sanh trí mầu

Chứng Bồ đề vô thượng.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia sau khi phát Bồ đề tâm nếu có ba điều dưới đây thời sẽ qua Thanh Văn thừa mà nhập Niết Bàn: có một hạng người sợ ba ác đạo, xem đạo Vô thượng quá nặng quá khó, không chuyên tu tập những thiện căn đã từng tu tập, chẳng thích cầu pháp lành, nản lòng cho là khổ, đây là điều thứ nhứt. Nếu có điều này thời thối thất Bồ đề tâm mà qua Thanh Văn thừa nhập Niết Bàn.

 

Có một hạng người lúc làm việc bố thí lòng không hoan hỉ, đã bố thí rồi lại hối hận, cũng chẳng hồi hướng cầu trí huệ Phật. Nếu người có điều thứ hai đây thời thối thất tâm Bồ đề, mau qua Thanh Văn thừa mà nhập Niết Bàn.

 

Lại có hạng người chẳng chuyên cần tinh tấn thật hành hạnh Đại thừa, chỉ thích cầu học rộng, do thiện căn hạ liệt mau nhập Niết Bàn. Đây là hạng thứ ba thối thất Bồ đề tâm, qua Thanh Văn mà nhập Niết Bàn”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Đã phát Bồ đề tâm

Chẳng tùy thuận chánh hạnh

Thối thất nơi Phật thừa

Vào nơi Thanh Văn đạo.

Vẫn tin đai Bồ đề

Cũng không lòng giải đãi

Do vô trí xan tham

Nên phải bị trở ngại.

Cảm ơn Phật trì giới

Bố thí lòng siêng năng

Ba la mật được thành

Chứng Bồ đề không khó.

Do tâm tạo những ác

Tâm củng thích cúng dường

Tâm chúng sanh nếu bền

Sẽ là thế gian quả.

Nếu lìa được ba lỗi

Hồi hướng đại Bồ đề

Sẽ là bực Thế Tôn

Chứng Bồ đề vô thượng

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia nếu có ba điều dưới đây, thời thối thất đạo Bồ đề, mà bát Niết Bàn nơi Độc Giác thừa: có hạng người dầu đã phát tâm Bồ đề nhưng bỏn sẻn chánh pháp. Có hạng người ham coi hạn coi sao và đoán việc cát hung thế gian. Lại co hạng người vì giải đãi mà không thể tu học khắp các pháp trợ Bồ đề. Những hàng tại gia đã phát tâm đại Bồ đề, nếu có ba lỗi trên thời sẽ thoiá thất Đại thừa mà vào Độc Giác thừa bát Niết Bàn.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Người bỏn sẻn chánh pháp

Chẳng chịu dạy bảo người

Sẽ qua Độc Giác thừa.

Thối thất đạo vô thượng.

Đã tu Đại thừa pháp

Lại xu cát tî hung

Chẳng phải chánh tín tâm

Tất phải xa Phật đạo.

Có thể chuyên tín nhạo

Kiên cố đạo Bồ đề

Trọn không lễ trời thần

Chỉ phụng thờ đức Phật.

Nếu có lòng tịnh tín

Chẳng cầu muốn quả trời

Có thể được Phật thừa

Hiệu là đấùng vô thượng

Nếu lòng thích Bồ đề

Chẳng thờ cúng trời thần

Không luận sanh chốn nào

Thân đẹp xinh tráng kiện.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia vì có ba điều mà thọ lấy thân thể đen xấu: lấy đèn sáng nơi tháp của Như Lai, đối với người tranh cãi kiện tụng mà tỏ vẻ giận dữ, với người đen xấu không can dự đến mình mà lại chê mắng”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Lấy đèn sáng nơi tháp

Hoặc làm tắt đèn thờ

Thọ lấy thân đen điu

Như lông đen chim quạ

Khinh chê người đen xấu

Tôi trắng trẻo anh đen

Do khinh chê nơi người

Thọ lấy thân đen xấu

Phải khéo gìn lỗ miệng

Lỗi họa tự miệng ra

Tùy theo nghiệp đã làm

Sẽ thọ lấy nghiệp báo.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia vì có ba điều sau đây mà phải sanh vào nhà thợ thuyền: tự đã giữ được năm giới, hoặc bị tân khách ép mời mà uống rượi, hoặc tự mời người khác uống, thời sẽ thọ sanh vào nhà thợ thuyền, đây là điều thứ nhứt.

 

Tự đã giữ được phạm hạnh, lại hòa hiệp người khác khiến họ làm việc uế dục, nên sẽ thọ sanh vào nhà thợ thuyền. Đây là điều thứ hai.

 

Thấy người siêng năng đọc tụng kinh pháp mà nhà mình lại hưng công rồi bảo kia rằng: Anh nên nghỉ đọc tụng để làm tiếp công việc cho tôi, do đây nên sẽ thọ sanh vào nhà thợ thuyền. Đây là điều thứ ba”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Đem rượi mời người uống

Uống rượu với bà con

Vì uống rượu say sưa

Bèn sanh vào nhà thợ.

Làm kim dao chẳng biết

Nghề khéo khác chẳng rành

Chỉ được ngồi động tay

Trước lò thụt ống bễ.

Tự mình tu phạm hạnh

Bảo người làm việc dâm

Mãn báo đã chết rồi

Sẽ sanh vào nhà thợ.

Làm kim dao chẳng biết

Ống bễ chẳng được làm

Chỉ biết quơ búa to

Đập xuống đe rèn sắt.

Bảo người bỏ đọc tụng

Sau khi đã chết rồi

Thọ sanh nhà thợ thuyền

Đâu óc thường nhu tối.

Chẳng biếtt thụt ống bễ

Cũng chẳng biết đập rèn

Do nghiệp báo khiến nên

Làm hư hại đồ đạc.

Phật có lời khuyên dạy

Nói năng phải gìn lời

Vĩnh viễn chớ dạy người

Làm tất cả việc ác.

Luân hồi sanh tử khổ,

Do tham ái mà ra

Pháp lành phải siêng tu

Lánh xa nhử pháp ác.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia nếu có ba điều dưới đây thời sẽ thọ sanh vào nhà vua chúa sang giàu, thanâ thể đoan nghiêm xinh đẹp, được mọi người kính yêu, thông minh khéo léo siêng năng chẳng biếng trễ: người tại gia vừa mới gặp bực Sa Môn, Bà La Môn lần đầu, liền kính tin cúng dường những vật thực y phục thuốc men đồ nằm cùng những vật cần dùng khác. Đây là điều thứ nhứt.

 

Người tại gia giữ vững bổn nguyện tu hành đúng như lời nói trọn chẳng vọng ngữ. Đây là điều thứ hai.

 

Người tại gia đối với bực Sa Môn, Bà La Môn đầy đủ giới hạnh, kính tin cúng dường các bực ấy mà lại có thể thọ học chánh pháp. Đây là điều thứ ba”.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Những người có trí huệ

Thấy bực giới học cao

Phải sanh lòng vui mừng

Thường đi theo học hỏi.

Đã được lời dạy dỗ

Nên đúng pháp cúng dường

Bố thí đồ cần dùng

Trọn không lòng hối hận.

Đây là pháp bền chắc

Cần phải tùy thuận làm

Phật trí được tương ưng

Khó được mà mau được.

Do lòng tin sâu chắc

Thẳng đến đại Bồ đề

Đường trí huệ tu hành

Phật đạo chứng chẳng khó.

Sống trong pháp Vô thượng

Mong được pháp diệu mầu

Phải thọ thất thánh tài

Quả Niết Bàn được chứng.

Sẽ sanh nhà tôn quí

Thân xinh đẹp đoan nghiêm

Ăn mặc đều cao sang

Chứng Niếtt bàn Vô thượng.

Như chỗ Phật khen ngợi

Tu hành tối thượng thừa

Thanh tịnnh diệu Niết Bàn

Đây là quả tối thắng.

Đã tạo nên công hạnh

Quả đẳng lưu chẳng dừng

Trăm ức kiếp trải qua

Nghiệp này cũng chẳng mất.

 

Này Đại Ca Diếp! Bồ Tát tại gia trọn nên ba điều vun trồng các căn lành nhẫn đến chứng được Vô thượng Bồ đề trọn chẳng thọ vui ngũ dục thế gian:

 

Người tại gia thọ trì năm giới, không ca ngợi vui ngũ dục với người khác, siêng năng tu tập nghiệp hạnh của mình. Lại phát nguyện rằng: tôi thôi gần gũi tất cả phụ nữ. Từ nay đến khi chứng Vô thượng Bồ đề, nguyện tôi chẳng gặp sự vui ngũ dục thế gian. Đây là điều thứ nhứt.

 

Người tại gia nghe kinh điển này, sanh lòng tin cầu quả đại Niết Bàn dầu thọ trì giáo pháp này nhưng yêm ẩn chẳng thật hành. Được người khác giảng giải và phát khởi, liền phải xa bỏ việc yêm ẩn mà cố gắng thật hành. Do căn lành này đặng biện tài vô ngại, vô trước. Người này đời hiện tại hoặc lúc lâm chung sẽ được thấy Phật. Sau khi chết sanh lên cõi trời, không bao lâu sẽ chứng được Vô thượng Bồ đề. Đây là điều thứ hai.

 

Bồ Tát tại gia đem những căn lành mà mình đã có đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề, chẳng ưa thích cảnh lục trần, của cải, chức tước, chẳng trìu mến quyến thuộc. Do Tâm vô vi và quả vô vi nên mau chứng Vô thượng Bồ đề. Đây là điều thứ ba.

 

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Tại gia tu năm giới

Khéo giữ khéo hộ trì

Chẳng gần gũi nữ nhơn

Trong đây sanh nhàm chán.

Những pháp môn Vô thượng

Siêng tu chẳng mỏi nhàm

Nếu có lỗi chẳng lành

Mau ăn năn chừa bỏ.

Những căn lành tu tập

Đều hồi hướng Bồ đề

Do công đức lành này

Sớm lìa vui ngũ dục.

Thường được học biết rộng

Đem chánh pháp dạy người

Sanh lòng đại từ bi

Cầu Bồ đề Vô thượng

Đã nghe những lợi ích

Phải sanh niệm hiền lành

Các dục nhiễm nên xa

Sớm được thành Phật đạo”.

 

Đại Ca Diếp bạch rằng: “Thế Tôn! Kinh pháp này tên là gì? Nay chúng tôi phải phụng trì thế nào?”.

 

Phật bảo Đại Ca Diếp: “Kinh này tên là “Thuyết Tam Luật Nghi”. Cũng tên là “Tuyên Thuyết Bồ Tát Cấm Giới”. Cũng tên là “Đồng Nhập Nhứt Thiết Pháp”.

 

Phật nói kinh này rồi, Tôn giả Đại Ca Diếp, tất cả đại chúng, Thiên, Long, Bát bộ v.v...nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.



 BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog