Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 42



PHÁP HỘI BỒ TÁT TẠNG

THỨ MƯỜI HAI


PHẨM THI LA BA LA MẬT

 

 Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất ! « Thế nào là Thi la Ba la mật đa của đại Bồ Tát mà đại Bồ Tát vì Vô thượng Bồ đề y theo pháp ấy siêng tu Bồ Tát đạo ?

 

 Nầy Xá Lợi Phất ! Vì thật hành Thi la Ba la mật mà đại Bồ Tát có ba thứ diệu hạnh, đó là thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh.

 

 Nầy Xá Lợi Phất ! Những gì gọi là thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh ?

 

 Đại Bồ Tát rời xa sát sanh, trộm cướp và tà hạnh, đây gọi là thân diệu hạnh.

 Đại Bồ Tát rời xa vọng ngữ, ly gián, ác ngữ và ỷ ngữ, đây gọi là ngữ diệu hạnh.

 Đại Bồ Tát không có thâm trước, giận hờn và tà kiến, đây gọi là ý diệu hạnh.

 Đại Bồ Tát có đủ ba thứ diệu hạnh ấy thì gọi là Thi la Ba la mật đa.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát suy nghĩ rằng thế nào là thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh ?

 

 Đại Bồ Tát suy nghĩ rằng nếu thân chẳng làm việc sát sanh, chẳng làm việc trộm cướp, chẳng làm việc tà hạnh thì gọi là thân diệu hạnh. Nếu miệng chẳng nói lời vọng ngữ, ly gián, thô ác, ỷ ngữ thì gọi là ngữ diệu hạnh. Nếu ý chẳng có tham trước, giận hờn, tà kiến thì gọi là ý diệu hạnh.

 

 Do có đủ những chánh tư duy như vậy nên gọi là đại Bồ Tát hành Thi la Ba la mật đa.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát suy nghĩ rằng nếu nghiệp chẳng do thân ngữ ý gây tạo thì có thể kiến lập nghiệp ấy được chăng ? Đại Bồ Tát đúng như lý quan niệm rằng nếu nghiệp chẳng do thân ngữ ý gây tạo thì chẳng kiến lập được hoặc xanh hoặc vàng hoặc đỏ hoặc trắng hoặc hồng hoặc màu pha lê, nghiệp ấy lại chẳng phải mắt thấy được, chẳng phải tai nghe được cũng chẳng phải mũi lưỡi thân và ý biết được. Tại sao ? Vì nghiệp ấy chẳng phải năng sanh, chẳng phải sở sanh, chẳng phải đã sanh, chẳng chấp thọ được, đều không có ai biết rõ được nghiệp ấy. Đại Bồ Tát suy biết tánh Thi la ấy chẳng thể làm được. Đã chẳng thể làm được thì chẳng thể kiến lập được, đã chẳng kiến lập được thì ở trong ấy chúng ta chẳng nên chấp trước.

 

 Do sức quan sát hiểu biết như vậy, đại Bồ Tát chẳng thấy diệu hạnh và Thi la, cũng chẳng thấy người có đủ Thi la, chẳng thấy chỗ hồi hướng của Thi la.

 

 Thấy hiểu như vậy rồi, đại Bồ Tát chẳng phát khởi chấp lấy có thân. Tại sao? Vì có thấy có thân thì có quan niệm đây là trì giới, đây là phạm giới rồi giữ gìn giới luật và oai nghi, hoặc hành động, hoặc cảnh duyên, đều đủ có thấy biết chơn chánh mà hành động. Vì biết và làm chơn chánh nên gọi là người trì giới.

 

 Đại Bồ Tát chẳng nắm lấy mình chẳng nắm lấy người mà thật hành các việc. Chẳng bỏ Thi la cũng chẳng nắm lấy Thi la mà thật hành các việc. Nếu nắm lấy ngã thì lấy Thi la. Nếu chẳng lấy ngã thì chẳng lấy Thi la bất khả đắc thì chẳng hủy phạm tất cả luật nghi. Nơi luật nghi nếu chẳng hủy phạm thì chẳng gọi là hủy phạm Thi la, cũng chẳng gọi là nắm lấy Thi la.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Do nhơn duyên gì mà ở nơi Thi la chẳng nắm lấy? Đó là biết tất cả pháp là tướng nhơn duyên. Đã là tướng nhơn duyên thì không có ngã. Ngã đã không thì nắm lấy chỗ nào?”

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Nếu có thân ngữ ý thanh tịnh

 Lúc làm thường tu hạnh thanh tịnh

 Thường ở trong cấm giới thanh tịnh

 Gọi là Bồ Tát đủ Thi la

 Chư Bồ Tát Hiền Thánh trí huệ

 Khéo hay hộ trì mười nghiệp lành

 Chẳng do thân ngữ và ý làm

 Đây là Thi la bực trí nói

 Nếu chẳng tạo tác chẳng phải sanh

 Chẳng chấp thọ không hình không hiển

 Vì không có hình không hiển sắc

 Nên chưa từng được để kiến lập

 Thi la vô vi cũng vô tác

 Chẳng phải mắt tai thấy nghe được

 Chẳng phải mũi lưỡi chẳng phải thân

 Chẳng phải tâm ý hay biết được

 Nếu chẳng phải sáu căn hay biết

 Thì không có ai thi thiết được

 Quan sát Thi la thanh tịnh ấy

 Chưa từng nương nắm ở Thi la

 Chẳng cậy trì giới sanh kiêu mạn

 Chẳn thấy có ngã gìn Thi la

 Khéo giữ Thi la không chấp giới

 Đầy đủ Thi la tu quán hạnh

 Hư vọng thấy thân đã trừ bỏ

 Bị thấy hay thấy đều không có

 Không có hay thấy không chỗ thấy

 Chẳng thấy trì giới và pháp giới

 Khéo vào diệu lý pháp không hộ

 Đầy đủ oai nghi chẳng nghĩ bàn

 Hay thủ hộ diệu thiện chánh tri

 Ngoài đây không ai đủ giới được

 Người không thấy ngã không Thi la

 Không ngã sở y hay y giới

 Phật nói rốt ráo thường vô úy

 Chẳng chấp thân ngã và Thi la

 Người nói vô ngã chẳng nắm giới

 Người nói vô ngã chẳng nương giới

 Người nói vô ngã chẳng cầu giới

 Người nói vô ngã giới vô tâm

 Chẳng phá Thi la chẳng nắm giới

 Cũng chẳng chấp ngã giữ Thi la

 Không tưởng có ngã và luật nghi

 Là hạnh Bồ đề bực đại trí

 Thi la như vậy vô sở úy

 Người nầy thường chẳng phạm Thi la

 Nếu hay chẳng chấp có các pháp

 Thi la như vậy được thánh khen

 Các ngu phu thường thấy có ngã

 Thấy ta đủ giới hay trì giới

 Họ hưởng quả trì giới mãn rồi

 Thường bị sa đọa ba ác đạo

 Nếu người dứt hẳn các ngã kiến

 Họ không có ngã không ngã sở

 Là chơn trì giới vì không chấp

 Không còn lo sợ đọa ác đạo

 Nếu người biết được giới hạnh ấy

 Không ai thấy được phạm Thi la

 Còn chẳng thấy ngã và ba cõi

 Huống thấy trì giới và pháp giới.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Thật hành Thi la Ba la mật đa như vậy, lúc đại Bồ Tát thật hành Bồ Tát hạnh giới thanh tịnh, có đủ mười thứ cực trọng thâm tâm :

 

 Một là phát khởi thâm tâm kính phụng các công hạnh.

 Hai là phát khởi thâm tâm càng thêm tinh tấn.

 Ba là phấn khởi ưa thích Phật chánh pháp.

 Bốn là rộng đủ và sùng trọng tất cả nghiệp lành.

 Năm là sâu tín và tôn trọng tất cả quả báo.

 Sáu là đối với chư Hiền Thánh sanh lòng kính ngưỡng

 Bảy là đối với Hòa Thượng và A Xà Lê thì thanh tịnh thị phụng.

 Tám là thường cúng dường các bực Hiền Thánh.

 Chín là cố gắng cầu thỉnh chánh pháp.

 Mười là lúc cầu Bồ đề chẳng kể thân mạng.

 

 Nầy Xá Lợi Phất ! Đại Bồ Tát an trụ thâm tâm cực trọng ấy mà tu tập pháp lành. Những gì là pháp lành ? Đó là ba diệu hạnh : Thân diệu hạnh, ngữ diệu hạnh và ý diệu hạnh. Đại Bồ Tát an trụ ba diệu hạnh ấy là vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu đại Bồ Tát tạng. Tại sao ? Vì chư đại Bồ Tát y pháp môn ấy thì có thể đến Vô thượng Bồ đề vậy”.

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Do thân mà phát khởi

 Nghiệp lành được Phật khen

 Vì được nghe chánh pháp

 Cúng dường chư Hiền Thánh

 Nơi pháp và Thánh Nhơn

 Sốt sắn thường kính thờ

 Vì lợi ích chúng sanh

 Tâm từ chẳng ganh ghét

 Nên nói lời người trí

 Chớ nói lời khó ưa

 Vui vẻ nói dịu dàng

 Phát ngôn không thô độc

 Ý tưởng thường là lành

 Không hề nghĩ điều ác

 Cung kính giữ tâm từ

 Nơi thánh giáo Như Lai

 Lòng kính vâng nghe pháp

 Mau giác ngộ Bồ đề.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi Ba la mật đa, vì đại Bồ Tát an trụ mười pháp thù thắng thâm tâm cực trọng ấy mà cần cầu pháp môn đại Bồ Tát tạng nên đối với chư Hiền Thánh và tất cả Sư Trưởng càng thêm cung kính thờ phụng cúng dường, nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lơị Phất! Lúc thật hành Thi Ba la mật đa, đại Bồ Tát phải có đủ mười thứ phát tâm. Những gì là mười?

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát quan sát thân thể nầy là rắn độc luôn trái hại nhau, nhiều khổ nhiều hoạn, điên cuồng ghẻ lác, bịnh phong bịnh nhiệt, bịnh hàn bịnh đàm, là chỗ họp các bịnh tật. Thân thể này lại như mụt nhọt mụt ung, như bị tên đâm, như dòng nước xiết, như kẻ xắt thịt, luôn dao động chẳng dừng mau sanh chóng diệt. Thân thể nầy lại hư ngụy, yều gầy già nua mau chết, dầu tạm thời còn mà khó ưa được như trong huyệt mả.

 

 Đại Bồ Tát lại quan niệm: Thân tật bịnh nầy của ta dầu trải qua nhiều khổ hoạn mà chưa từng gặp phước điền, nay ta được gặp, ta phải nương theo các phước điền để nuôi lớn huệ mạng, bỏ thân chẳng bền, được thân kiên cố. Vì muốn cần cầu pháp môn đại Bồ Tát tạng vi diệu nên đối với chư Hiền Thánh và Hòa Thượng, A Xà Lê thường phụng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ nhứt”.

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Ổ rắn độc tụ họp

 Xoay vần nương gá nhau

 Một thứ tăng động lên

 Thì gây nên khổ lớn

 Nào là mắt tai mũi

 Lưỡi răng các tạng phủ

 Bao nhiêu bịnh đau khổ

 Đều do thân thể sanh

 Ghẻ nhọt cùng khùng điên

 Ung thư và cùi hủi

 Dịch lệ các bịnh dữ

 Đều do thân phát sanh

 Thân nầy nhiều bịnh hoạn

 Như nhọt như trúng tên

 Thân độc hại như vậy

 Tạm còn rồi mau rã

 Như đến trong gò mả

 Đều là cảnh vô thường

 Thân hư mục động dao

 Nhiều bịnh mau sanh diệt

 Ta phải tu thân Phật

 Nhơn nơi nghiệp chánh lành

 Đem thân hư mục nầy

 Già suy mau chết mất

 Chuyển thành thân Như Lai

 Và pháp thân Vô thượng

 Đem thân hư mục nầy

 Luôn chảy nước thúi hôi

 Đổi lấy thân trong sạch

 Không dơ không hôi thúi

 Nếu người sợ lạnh nóng

 Che ngăn phòng ngừa kỹ

 Rồi cũng bị bịnh tật

 Già chết đồng bức hại

 Nếu đem thân lạnh nóng

 Chịu đựng tu nghiệp lành

 Trang nghiêm hạnh trượng phu

 Mau thành thân Vô thượng

 Đem thân siêng cúng dường

 Các Thánh Hiền Tôn Sư

 Chuyển thân mỏng manh nầy

 Thành thân thiệt bền chắc.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ nhứt như vậy để cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng, đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cùng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát nghĩ rằng thân thể chẳng bền, phải nhờ che đậy rửa ráy kỳ cọ mà rồi rốt cuộc vẫn hư rã.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Ví như thợ gốm nắn nung đồ sành hoặc lớn hoặc nhỏ rốt cuộc rồi vẫn hư bể.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Thân chẳng bền chắc rồi sẽ hư rã như những đồ sành ấy.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Như những lá bông trái nương trên nhánh cây rồi sẽ rơi rụng.

 Cũng vậy, thân nầy chẳng bền rồi cũng sẽ chết mất chẳng lâu.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Như giọt sương đọng đầu cỏ bị ánh nắng chiếu đến tất cả chẳng còn.

 

 Cũng vậy, thân nầy chẳng bền chẳng lâu như sương đầu cỏ.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Như giọt nước trong biển sông mềm yếu mỏng manh mau tan mau rã.

 

 Cũng vậy, thân nầy chẳng chắc tánh chất mỏng manh như bọt nước.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Như bóng nước nổi lên khi mưa lớn, nổi mau tan cũng mau.

 

 Cũng vậy, thân nầy chẳng bền tánh chất mỏng nhẹ mau sanh mau diệt.

 

 Nầy Xá Lơị Phất! Đại Bồ Tát quan sát kỹ thân thể mình thấy biết như vậy rồi, lại nghĩ rằng ta từ lâu thọ lấy thân thể chẳng chắc bền như vậy mà chưa gặp được phước điền, nay được gặp ta phải nương theo phước điền để nuôi lớn huệ mạng, đem thân chẳng bền đổi lấy thân bền chắc. Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ hai”.

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Như người thợ gốm kia

 Nắn đất làm đồ sành

 Đều rồi sẽ hư bể

 Mạng sống người cũng vậy

 Như những lá hoa trái

 Nương mọc trên nhánh cây

 Rồi sẽ rơi rụng hết

 Mạng sống người cũng vậy

 Như giọt sương đầu cỏ

 Bị ánh nắng chiếu soi

 Giây lát rồi tan biến

 Mạng sống người cũng vậy

 Như bọt nổi mặt nước

 Tánh nọ vốn mỏng manh

 Thân nầy chẳng chắc bền

 Hư nổi cũng như vậy

 Như trời mưa lớn xuống

 Mặt nước nổi bong bóng

 Giây phút đều tan rã

 Thân chẳng bền cũng vậy

 Chẳng bền cho là bền

 Còn bền cho chẳng bền

 Vì nghĩ tưởng sai lầm

 Chẳng chứng được bền chắc

 Nơi bền biết là bền

 Chẳng bền biết chẳng bền

 Hiểu biết chơn chánh đúng

 Chứng được thân bền chắc

 Vì tu trí huệ thiệt

 Thí đồ nhỏ đựng nước

 Nên đem thân chẳng bền

 Đổi lấy thân bền chắc.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm thứ hai như vậy. Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:

 

 Từ lâu ta rời xa thiện hữu, bị nạn ác rủ ren nên lười biếng chẳng siêng tu, ngu độn hạ liệt nhiều tà kiến ác kiến, không bố thí không tạo phước không làm lành thêm lớn các nghiệp quả báo.

 

 Lại nghĩ rằng ta bị tham dục làm mê nên mãi mãi lưu chuyển gây tạo các nghiệp ác, do nghiệp ác ấy mà cảm lấy thân quỷ xấu dơ, thiếu đồ cần dùng không có phước điền tối thắng. Ta lại từng sanh trong ngạ quỷ luôn ăn tro than trong vô lượng năm, lại trong trăm ngàn năm chẳng nghe tên nước huống là được uống được dùng.

 

 Lại nghĩ rằng nay ta gặp được phước điền tối thắng lại cảm được thân lành nầy có nhiều đồ cần dùng, ta phải nương phước điền mà tu nghiệp lành chẳng kể thân mạng, kính thờ các bực Sư Trưởng, Hòa Thượng, A Xà Lê. Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư phụng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ ba”.

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Thường thân cận kính thờ

 Thiện tri thức như vậy

 Thì được thành tánh ấy

 Nên phải luôn gần gũi

 Vì kề cận bạn xấu

 Rời xa bạn hiền lành

 Nên lười biếng buông lung

 Ghét ganh bỏn xẻn nịnh

 Tà kiến không bố thí

 Bác bỏ tất cả lành

 Ta từng sanh loài quỷ

 Thọ thân hình tệ xấu

 Ở sanh tử lâu ngày

 Trong tối tăm đáng sợ

 Đói khát đốt khổ não

 Chịu rất nhiều khổ sở

 Trong nhiều trăm ngàn năm

 Chưa nghe được tên nước

 Chẳng thấy được phước điền

 Chẳng thoát khỏi nạn ấy

 Nay ta được thân lành

 Khó được ở thế gian

 Lại gặp được hiền minh

 Đầy đủ khỏi các nạn

 Lại rời xa bạn ác

 Gặp được bạn hiền lành

 Thề chẳng kể thân mạng

 Để được chứng Bồ đề

 Dùng tâm lành thanh tịnh

 Cung phụng bực Tôn Sư

 Cũng sẽ cúng dường Phật

 Để được chứng Bồ đề.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát pháp tâm thứ ba rồi, vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật đa, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:

 Từ lâu ta rời xa bạn lành gần gũi bạn xấu nên biếng lười phóng túng siêng làm việc quấy, ngu si vô trí, lúc thấy có chúng sanh khổ não kêu khóc, lại dùng tay đánh đập não hại. Do đó lại sanh nhiều ác kiến cho rằng không có nghiệp ác báo ác.

 

 Lại do giận hờn mê lòng nên gây tạo nhiều nghiệp ác, do nghiệp ác ấy cảm thọ thân súc sanh xấu dơ, thiếu đồ cần dùng lại không có tất cả phước điền tối thắng.

 

 Bồ Tát nghĩ rằng lúc ta ở trong loài súc sanh, hoặc làm lạc đà hoặc làm bò lừa ăn cỏ rác, thêm bị la mắng đánh đập đe dọa bắt buộc mang nặng đi xa.

 

 Lại nghĩ rằng thuở trước dầu bị khổ nhiều mà chẳng gặp được phước điền, nay ta được gặp, lại được thân lành nầy, ta nên nương phước điền để tu nghiệp lành, chẳng kể thân mạng, kính thờ Sư Trưởng, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc. Vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ tư”.

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Từ lâu thuở trước kia

 Chưa biết lên đường thánh

 Đọa loài đà bò lừa

 Chịu nhiều điều khổ cực

 Nay ta được thân người Phải tu nghiệp hiền thiện

 Để được chứng Bồ đề

 Đó là tướng trí huệ

 Ta phải nên cung kính

 Kiến lập các Phật pháp

 Thờ cúng thuyết pháp sư

 Để được đại Bồ đề

 Quá khứ nan tư kiếp

 Vòng quanh trong sanh tử

 Lại qua mãi vô ích

 Không phước điền nuôi mạng

 Rời xa bạn thầy lành

 Thường gần các bạn xấu

 Nghe lời họ khuyến dụ

 Luôn đọa các ác đạo

 Đối với loài bàng sanh

 Cột nhốt đánh mắng chúng

 Do các nghiệp ác ấy

 Chịu lấy quả khổ cực

 Làm lạc đà bò lừa

 Mang nặng thêm bị đánh

 Vì chẳng gần bạn lành

 Nay ta được thân người

 Và bạn thiện tri thức

 Đã được sanh thiện đạo

 Lại được khỏi các nạn

 Như rùa đui đáy biển

 Mừng gặp bộng cây trôi

 Khéo giữ gìn thân khẩu

 Tâm tinh tấn cường thạnh

 Thờ thiện hữu không dua

 Nuôi lớn thân huệ mạng

 Nếu có bực Tôn Sư

 Khai phát huệ mạng ta

 Hay giảng nói diệu pháp

 Thẳng đến đường Bồ đề

 Cúng dường chư Như Lai

 Những hương hoa hương bột

 Y phục và tràng hoa

 Ta phải thường thờ kính

 Hiện tại thập phương Phật

 Thường khai thị thắng nghĩa

 Đấng kim sắc vô biên

 Phải kính thờ cúng dường

 Đi khắp các quốc độ

 Cúng dường Điều Ngự Sư

 Vì thanh tịnh giác đạo

 Sẽ thăng tòa đại giác.

 

 Nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ tư ấy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với pháp sư càng thêm vâng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy :

 

 Thuở trước vì ta rời xa thiện hữu gần gũi ác hữu nên lười biếng phóng túng vô trí ngu si siêng làm những điều hạ liệt. Vọng nghĩ rằng đem thịt của tất cả hữu tình nấu chung một nồi, xắt chung làm gỏi, việc làm ấy chẳng phải tội, chẳng bị ác báo, chẳng sanh ác đạo. Vì ác kiến nên nghĩ rằng bố thí cho tất cả hữu tình được sung túc, việc làm ấy chẳng gọi là phước, chẳng được phước báu, chẳng sanh nơi phước. Lại vì ác kiến nên cho rằng dầu giết hại tất cả hữu tình cũng chẳng bị ác báo chẳng sanh ác đạo.

 

 Bồ Tát nghĩ rằng thuở trước ta làm những việc ấy mà chẳng biết được là tội chẳng tội, là phước chẳng phước, quen gần bạn ác ngu si vô trí gây nhiều nghiệp ác, do đó bị đọa vào địa ngục cảm lấy thân tệ hạ xấu dơ, hoặc nuốt hòn sắt đỏ, hoặc bị cưa xẻ, chịu khổ không hở đến nhiều trăm ngàn năm, chẳng hề được nghe sự vui huống là được hưởng.

 

 Bồ Tát laị nghĩ rằng thuở trước dầu ta trải qua nhiều đau khổ như vậy mà vẫn chẳng gặp được phước điền. Nay ta được gặp phước điền lại cảm được thân người, ta phải nương phước điền nuôi lớn huệ mạng, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, phụng thờ Sư Trưởng chẳng kể thân mạng. Vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát Tạng nên đối với thuyết pháp sư vâng thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ năm ».

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 

 « Xưa ta gần bạn ác

 Bị tâm ác mê hoặc

 Nương theo các ác kiến

 Gây tạo các nghiệp ác

 Khắp biển cả đất liền

 Bố thí no đủ cả

 Cho rằng chẳng được phước

 Khắp biển cả đất liền

 Có bao nhiêu chúng sanh

 Ta đều giết hại cả

 Cho rằng chẳng có tội

 Luôn gần kề tập quen

 Các ác kiến như vậy

 Đọa địa ngục tột khổ

 Ép dẹp cả đầu mình

 Xưa ở các ác đạo

 Luống thọ trăm ngàn thân

 Chưa hề thấy chư Phật

 Đấng Đạo Sư thế gian

 Thiện tri thức trong đời

 Tiếng ấy còn khó nghe

 Ta may được thân người

 Phải tu nghiệp hiền thiện

 Được thân người rất khó

 Sống lâu cũng là khó

 Nghe chánh pháp càng khó

 Phật xuất thế khó hơn

 Ta đã được thân người

 Cảm mạng sống mỏng manh

 Gặp được Phật ra đời

 Dự chánh giáo Như Lai

 Ta chẳng còn nên làm

 Nghiệp ác thân khẩu ý

 Chớ để đời sau nầy

 Thọ quả báo khổ cực

 Ta phải dùng tịnh tâm

 Tu tập nghiệp thanh tịnh

 Do thân ngữ và ý

 Làm việc đời khó làm

 Ta trọn chẳng sai trái

 Chánh giáo của Tôn Sư

 Lại phải siêng cúng dường

 Vì cầu Bồ đề Phật

 Do ta chẳng du dối

 Không có lòng ảo ngụy

 Nên mở đường thẳng dài

 Cầu Phật đạo vô thượng

 Đại Bồ Tát vô úy

 Đã phát tâm như vậy

 Cúng dường đồ đựng nước

 Phương tiện huệ đầy đủ.

 

 Nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ năm rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất ! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy :

 

 Từ lâu tôi rời xa thiện hữu gần kề ác hữu nên lười biếng phóng túng siêng làm việc hạ liệt, ngu si vô trí. Do đó mà vọng bỏ những sự tiếp rước cúi mình lễ lạy chắp tay thăm hỏi các nghiệp báo lành. Vì lòng khinh mạn mê hoặc nên gây tạo nghiệp ác. Do nghiệp báo ác nên ở nơi các phước điền chưa từng nuôi lớn huệ mạng thanh tịnh. Lại nghĩ rằng ta nhơ thuở xưa cảm thọ thân côi cút nghèo cùng hạ tiện làm tôi tớ cho người khác. Ta lại thọ lấy thân người đam mê sắc dục, đam mê tất cả tướng sắc dục, ở trong số ác nghiệp bất bình đẳng, sanh khởi nhiều thứ tà kiến, phá hư Thi la, phá hư chánh kiến. An trụ trong ba thứ căn bất thiện, an trụ trong bốn thứ chẳng nên hành động, bị ngũ cái trum đậy, chẳng có lòng cung kính đối với sáu ngôi tôn trọng, chưa chuyển theo bảy giác chi, quyết định hành động trong tám tánh tà, bị chín thứ não hại làm tổn não, thường noi đi trên mười đường ác nghiệp, luôn hướng mặt về phía nghiệp báo địa ngục mà day lưng về phía nghiệp báo trời, rời xa tất cả thiện tri thức, bị lệ thuộc nơi các ác hữu, tự tại đi theo ma oán xa các pháp lành mà làm tất cả pháp bất thiện, lại còn bị đánh đập mắng la ép buộc phục dịch cung cấp cho kẻ khác.

 

 Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng thuở xưa vì ta chưa gặp được phước điền nên nhận lãnh điều ác. Nay ta được gặp phước điền lại cảm thọ thân người lành tốt nầy, ta phải nương theo các phước điền, đem thân chẳng bền đổi thân bền chắc, nuôi lớn huệ mạng, phụng thờ Sư Trưởng chẳng kể thân mạng. Vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư thờ kính cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ sáu ».

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 

 « Gần kề ác hữu thêm kiêu mạng

 Trải qua vô lượng kiếp quá khứ

 Trong người thọ sanh thân nô tỳ

 Lăn trôi mãi trong dòng sanh tử

 Nay ta đã được thân khó được

 Báo người lành tốt mạnh đệ nhứt

 Lại được sanh trong quốc độ tốt

 Gặp Phật ra đời không nạn khổ

 Bạn lành thầy lành rất thù thắng

 Hay giảng công hạnh Bồ Tát làm

 Nhiều câu chi kiếp nay mới gặp

 Chư đại Bồ Tát công đức lớn

 Thân người vô thường giả mỏng manh

 Ví như bóng nước cùng đống bọt

 Lại như ảo huyễn va vai kịch

 Như ngủ chiêm bao mà nói mớ

 Mạng như mây chớp chẳng lâu dài

 Thế gian niệm niệm sắp tiêu diệt

 Mạng nầy gần như khoảng sát na

 Nên đem chẳng bền đổi thân chắc

 Ta nhớ nhiều kiếp thuở quá khứ

 Sa giữa núi mạn chỗ hiểm sâu

 Quá khứ đã từng bị khi dối

 Trải qua trăm ngàn kiếp số lâu

 Nay ta bỏ hết thân tham ái

 Lại không có lòng tiếc mạng sống

 Phải mau rời bỏ lòng kiêu mạn

 Phải siêng kính thờ các Sư Trưởng

 Với các hạng người đời đồng kính

 Đó là cha mẹ anh chị thảy

 Phải mau rời bỏ lòng kiêu căng

 Cung kính vâng dạ tuân lời dạy

 Với chư Bồ Tát gần Bồ đề

 Cùng ta đồng tu Bồ Tát hạnh

 Phải có chặc lòng kính mến nhiều

 Thường vui cúng dường chuyên thờ phụng

 Thuở xưa kiêu mạn lớn cao căng

 Chẳng nghe biết pháp Phật trừ mạn

 Phải dùng trí kim cương vô Thượng

 Khiến núi kiêu mạn ngã nát hẳn

 Diệu hạnh Bồ đề viên mãn rồi

 Ngồi yên trên tòa thắng Bồ đề

 Dẹp phục quân ma bầy tranh đấu

 Sễ độ quần sanh trong biển khổ

 Bao nhiêu kẻ khổ ở mười phương

 Nằm trong phẩn dơ bị chê chán

 Phát khởi tâm từ thương xót họ

 Làm chỗ cứu vớt cho họ về

 An trụ đại thí Ba la mật

 Lại hay phòng hộ Phật giới đức

 Tu hành đầy đủ hạnh nhẫn nhục

 Phát khởi chánh cần khiến hiện tiền

 Được đủ tịnh lự Ba la mật

 Bấy giờ điều phục tâm ở yên

 Trụ nơi đại huệ thiện phương tiện

 Làm phước điền cho tất cả chúng

 Thêm lớn phước lực thạnh như vậy

 Bất khả tư nghị thiện trí thức

 Gặp được bực trí tự tại nhứt

 Cúng dường nhẫn đến đồ đựng nước.

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ sáu như vậy rồi, vì cần cầu pháp môn vi diệu Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:

 

 Từ lâu ta vì rời xa thiện hữu mà gần kề ác hữu nên lười biếng phóng túng siêng làm việc hạ tiện ngu si vô trí. Do ác kiến ấy mà vọng cho rằng không nghiệp ác không báo ác, không nghiệp lành không báo lành, không nghiệp ác lành không báo ác lành, không nghiệp chẳng ác lành không báo chẳng ác lành. Lại chẳng thỉnh hỏi nơi các nhà trí thức như Sa Môn và Bà La Môn gì là lành gì là chẳng lành, gì là tội gì là chẳng tội, gì nên tu gì chẳng nên tu, gì nên làm gì chẳng nên làm, tu công hạnh gì mà phải cảm lấy vô lợi vô nghĩa và các khổ não nhiều thời gian, tu công hạnh gì mà cảm được hữu lợi hữu nghĩa và nhiều an vui lâu dài?

 

 Đại Bồ Tát nghĩ rằng thuở xưa vì lòng mạn và thắng mê hoặc nên ta gây tạo nhiều nghiệp ác bất thiện. Do đó cảm thọ thân người tật nguyền, nơi các phước điền chưa nuôi huệ mạng, dầu ở trong loài người mà chẳng khác chậu úp ngu độn khờ khạo mù đui lãng điếc, với nghĩa lý thiện và ác không có năng lực thông hiểu tuyên nói.

 

 Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng thuở xưa ta chưa gặp phước điền thù thắng nầy nên gây tội ác, nay ta được gặp phước điền thù thắng nầy lại cảm được thân người lành, ta phải nương phước điền nầy nuôi lớn huệ mạng. Ta lại phải chẳng kể thân mạng để cầu có năng lực thông hiểu được những nghĩa về thuyết thiện thuyết ác. Ta phải thỉnh hỏi nơi thuyết pháp sư gì là thiện gì là bất thiện, gì là có tội gì là không tội, gì nên tu gì chẳng nên tu, gì nên làm gì chẳng nên làm, thật hành công hạnh gì làm cho pháp Thanh Văn và Độc Giác được phát hiện, thật hành công hạnh gì làm cho pháp Phật và pháp Bồ Tát được thể hiện?

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát vì muốn siêng cầu Bồ Tát tạng nên y theo Thi la Ba la mật đa mà tu Bồ Tát hạnh đem thân chẳng bền đổi lấy thân bền chắc, đối với thuyết pháp sư kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Đây gọi là đại Bồ Tát phát tâm thứ bảy”.

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Từ xưa quá khứ trăm ngàn kiếp

 Rời xa thiện hữu người lợi ích

 Chưa từng thưa hỏi tiện bất thiện

 Có tội không tội các nghiệp quả

 Do lỗi kiêu mạn quá tăng thượng

 Đọa trong địa ngục và loài quỷ

 Quen gần ác kiến làm bạn bè

 Trải nhiều trăm kiếp sa ác đạo

 Hoặc sanh loài người nhiều ngàn kiếp

 Luân hồi thọ thân căn chẳng đủ

 Chẳng biết gì thiện gì bất thiện

 Có tội không tội đều chẳng hiểu

 Nay được thân người thật lành mạnh

 Đầy đủ các căn lại than tịnh

 Tất cả các nạn đều rời xa

 Như rùa đáy biển gặp bọng nổi

 Gặp được Thế Tôn đèn soi đời

 Nghe dạy những thánh giáo ly dục

 Giờ đây ta hỏi đức Thế Tôn

 Các nghiệp quả thiện và bất thiện

 Gì là xan tham đọa các nẻo

 Gì không xan tham làm thí chủ

 Gì là tham nịnh ô nhiễm giới

 Gì là luật nghi giữ toàn vẹn

 Gì là giận thù não loạn người

 Gì là không hờn sức nhẫn nhục

 Gì là giải đãi tâm tán loạn

 Gì là siêng năng ưa tịnh lự

 Gì là àc kiến câm ngu si

 Gì là thiện huệ rành chơn thiệt

 Gì là chuyên tu hành Bồ đề

 Tìm cầu đầy đủ hạnh Hiền Thánh

 Gì là tâm từ khắp thế gian

 Gì là cứu tế các ác đạo

 Gì là ưa pháp lòng chẳng nhàm

 Hay cầu Bồ đề Đại thừa tạng

 Gì là qua đến mười phương cõi

 Đứng trước chư Phật hiện tại thế

 Gì là kính thờ tu công đức

 Gì là thưa hỏi hạnh Phổ Hiền

 Nay đây ta phải siêng thỉnh hỏi

 Đấng tôn trọng trong hàng Pháp Sư

 Gì là với Thầy vui kính dâng

 Gì là làm vui lòng Sư Trưởng

 Phật tử đã sanh lòng như vậy

 Hay họp phước lực rất lớn rộng

 Và sức trí huệ thắng tự tại

 Vui mừng cúng dường tất cả vật.

 

 Nầy Xá Lợi Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm thứ bảy rồi, vì muốn cần cầu pháp môn vi diệ Bồ Tát tạng nên đối với thuyết pháp sư càng thêm kính thờ cúng dường nhẫn đến bố thí đồ dùng đựng nước.

 

 Lại nầy Xá Lơị Phất! Lúc thật hành Thi la Ba la mật, đại Bồ Tát phát tâm như vầy:

 

 Từ lâu ta rời xa thiện hữu gần kề ác hữu nên lười biếng phóng túng siêng làm những việc hạ tiện ngu đần vô trí như câm, rời xa tất cả văn cú có chánh nghĩa, văn cú có chánh pháp, văn cú có tịch tĩnh có chỉ có quán, có chánh giác có Niết bàn. Rời xa những văn cú có nghĩa có lợi thắng diệu như vậy rồi trở lại học tập nghiên tầm thông đạt tất cả văn cú phi nghĩa, phi pháp, phi giác, phi Niết bàn. Do đó nên sanh ác kiến vọng cho rằng không có lực không có tinh tấn, không có quả trượng phu, không oai thế, không dũng mãnh, không công hạnh, không oai đức. Lại quan niệm không nhơn không duyên gì có thể khiến hữu tình nhiễm ô được, hữu tình tạp nhiễm chẳng do nhơn duyên. Lại quan niệm không nhơn không duyên gì có thể làm cho hữu tình thanh tịnh, hữu tình thanh tịnh chẳng do nhơn duyên.




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog