Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

KINH ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 34



PHÁP HỘI

XUẤT HIỆN QUANG MINH

THỨ MƯỜI MỘT


Lại nói nơi nhãn

Tận biên sanh biên

Biên tế lưu chuyển

Nhẫn đến tịch diệt

Không có ngã nhơn

Chúng sanh thọ giả

Nhẫn đến không có

Bổ đặc già la

Vô tướng vô vi

Chẳng lai chẳng khứ

Các tướng như vậy

Thảy đều biết rõ

Lại nói biết rõ

Nhãn của pháp tánh

Lại nói biết rõ

Pháp thành tựu nhãn

Trí nhãn Huệ nhãn

Phạm nhãn Thiên nhãn

Phạm sanh đắc nhãn

Thiên sanh đắc nhãn

Phạm dị thục nhãn

Thiên dị thục nhãn

Phạm nhơn sanh nhãn

Thiên nhơn sanh nhãn

Thiên thần biến nhãn

Thiên tinh tiến nhãn

Hạ liệt sanh nhãn

Thù thắng sanh nhãn

Rời lìa con mắt

Diêm La sanh ra

Lìa mắt Dạ Xoa

Long, Cưu Bàn Trà

Những mắt nhiệt não

Mắt phi nhiệt não

Con mắt thanh tịnh

Mắt phi thanh tịnh

Mắt rộng mắt hẹp

Mắt Thanh Văn thừa

Mắt của thiền định

Mắt tam ma địa

Mắt của cảnh giới

Mắt của tham sanh

Mắt rời tham sanh

Mắt từ nhơn sanh

Mắt phi nhơn sanh

Mắt của tương ưng

Mắt phi tương ưng

Mắt y môn sanh

Mắt phi môn sanh

Mắt nhơn duyên sanh

Mắt nhơn môn sanh

Mắt chẳng phải thịt

Mắt trí thanh tịnh

Mắt vô sơ hữu

Mắt bất khả đắc

Nhĩ tỷ thiệt thân

Nhẫn đến thanh danh

Hai mươi lăm pháp

Cũng lại như vậy.

Bấy giờ Thế Tôn

Ở trên hư không

Lại phát vô lượng

Âm thanh vi diệu

Diễn nói những pháp

Thắng đà la ni

Đều là của Phật

Biến hóa ra cả.

 

Đà la ni rằng:

 

 1.Hê lệ, 2.Ma lệ ma lệ, 3.Tứ đệ, 4.Y nê, 5.Nhĩ nê, 6.Cú lộ nễ canh, 7.Cú lộ nễ canh, 8.Cú lệ, 9.Ma lệ, 10.Cú noa đế, 11.A ra nghệ, 12.A hê lệ, 13.Nhĩ nhĩ lệ đế, 14.Tố nhĩ lệ, 15.Nhĩ lệ nhĩ lệ, 16.Biền tỷ lệ, 17.A tỷ lệ, 18.Tố đế thế, 19.Đà nễ, 20.Ma nễ, 21.Già nễ, 22.Già rị đế, 23.Tố già lê, 24.Bát rị dã nhiên nẳng nê, 25.A nỗ lô nhĩ kế, 26.Vi lộ mê, 27.Tố bà niết lý thế, 28.A đà rị lệ, 29.Tát ma bát ra bổn đế, 30.Bát ra vĩ hê, 31.Đà la ni, 32.Để sắc sỉ ha, 33.Tố để a thế, 34.Bộ nhượng già già nẵng, 35.Cung bàn noa, 36.A phạ sa phạ nẳng, 37.Bá rị đố lý dã ninh, 38.Bát rị già noa ninh, 39.Ma nẳng sa, 40.Tố lộ chỉ đa, 41.Bát na, 42.Ác sát ra, 43.A tì la tỷ dã, 44.Bát ra để sắc tra ha, 45.Đà la ni, 46.A nhĩ đa, 47.Ngu nê tì.

 

Đà la ni như vậy

Của chư Phật đã được

Đầy đủ đại thần thông

Trí huệ vô biên lượng

Rời lìa các chấp trước

Niệm xứ đều thanh tịnh

Không sắc không khứ lai

Chẳng phải phương phương sở

Không tướng không ngôn thuyết

Vượt quá những hí luận

Bồ Tát siêng năng tu

Rốt ráo được thanh tịnh

Giả sử dùng trăm ngàn

Na do tha kệ tụng

Diễn nói chừng một câu

Chẳng hết được biên tế

Chư Thánh chỗ tán thán

Thanh tịnh không nhiễm trước

Tất cả các chúng hội

Thảy đều sanh tôn trọng

Đà la ni như vậy

Thiện pháp oai thần lực

Hay xô dẹp phiền não

Khiết được những thắng lợi

Công đức và trí huệ

Rộng lớn như biển cả

Thành tựu nhẫn nhục lực

Tâm an trụ chẳng động

Bồ Tát thường tu tập

Người trì thường khen ngợi

Bỏ rời sự nghèo cùng

Sẽ được của báu lớn

Đà la ni như vậy

Thêm lớn các công đức

Thường dùng câu không tánh

Chơn thiệt để trang nghiêm

Do bỏ những văn tự

Gọi đó là không tánh

Để bỏ nơi tâm thức

Gọi đó là pháp tánh

Đà la ni như vậy

Rời cấu thường thanh tịnh

An trụ nơi thiệt trí

Hiện các thứ lợi ích

Làm cho các chúng sanh

Vui mừng phát tịnh tâm

Vô lượng chúng Dạ Xoa

Và chúng Cưu Bàn Trà

Chư Quỷ Vương như vậy

Lòng họ rất vui mừng

Đà la ni như vậy

Tịch tịnh không hí luận

Mến ưa các chúng sanh

Đều khắp ban an vui

Trong nhiều trăm ngàn kiếp

Thường ở trong các loài

Làm vô lượng lợi ich

Thanh tịnh không ô nhiễm

Hoặc dùng trăm ngàn kệ

Diễn nói pháp cam lộ

Khiến vô lượng chúng sanh

Đều sanh lòng vui mừng

Thưở xưa vô lượng Phật

Dùng ý lạc thanh tịnh

Nơi đà la ni nầy

Thường tư duy pháp tánh

Thích Phạm chư Thiên chúng

Long Vương và Tu La

Nghe đà la ni nầy

Lòng họ rất vui mừng

Đà la ni như vậy

Trải qua các quốc độ

Thường không cò tai nạn

Bịnh khổ và ưu não

Tất cả các chúng sanh

Mọi loài đều vui thích

Nguyện đà la ni nầy

Thường ở nơi tăm tối

Đà la ni như vậy

Tùy thân tâm ở đâu

Cổ họng và môi lưỡi

Sanh vô lượng công đức

Nếu thường thọ trì được

Được vô lượng công đức

Lợi ích nhiều chúng sanh

Đều làm cho vui mừng

Đà la ni như vầy

Rời lìa những tội ác

Diễn thuyết pháp vi diệu

Đều dứt trừ nghi hoặc

Xô phá các kiên mạn

Được vô lượng công đức

Đà la ni như vậy

Pháp rất sâu vi mật

Người trí thường suy nghĩ

Dũng mãnh siêng tu tập

Mặc áo giáp trí huệ

Xô diệt các phiền não

Thêm lớn tâm công đức

Mến thích không nhàm đủ

Đà la ni như vậy

Đủ danh gọi rộng lớn

Rõ được tận vô tận

Sanh biên vô sanh biên

Dùng trí huệ như vậy

Các thứ tự trang nghiêm

Trăm ngàn các Như Lai

Tôn trọng mà cúng dường

Đà la ni như vậy

Đủ hai thứ minh hạnh

Y chỉ nơi thắng định

Xu hướng đạo Bồ đề

Tùy thuận nơi chỉ quán

Thông đạt huệ vô lậu

Dùng tịnh tín căn lực

Thành tựu nơi hai tay

Dùng tịnh tiến nhẫn nhục

Thành tựu nơi hai vú

Trí huệ Ba la mật

Mà dùng làm đảnh tướng

Tu đa la làm tuyến

Xâu vòng hoa tứ biện

Thuở xưa đã tu hành

Các thứ công đức lành

Và vô lượng thí dụ

Tất cả đều trang nghiêm

Đà la ni như vậy

Đủ vô lượng công đức

Nơi nhãn tiền hậu tế

Tận biên vô tận biên

Hoặc sanh hoặc vô sanh

Biên tế phi biên tế

Tịch tịnh chẳng tịch tịnh

Lưu chuyển phi lưu chuyển

Vô hữu và vô sanh

Tịch diệt cùng vô ngã

Không nhơn không thọ giả

Nhẫn đến không chúng sanh

Vô lượng môn như vậy

Tất cả đều hiểu rõ

Nhĩ tỷ thiệt thân tâm

Sáu trần và tứ đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy

Như trên đã ca ngợi

Đà lan ni vi diệu

Tịch tịnh thắng công đức

Cảnh giới của chư Phật

Thiệt nghĩa đà la ni

Văn tự chẳng tỏ được

Vì thuận theo thế gian

Chỉ dùng giả danh nói.

 

 Lúc ấy đức Thế Tôn và đại chúng đến nhà Nguyệt Quang Đồng Tử trải tòa mà ngồi. Đồng Tử biết đức Phật ngồi xong, đích thân mang đồ cúng dường vi diệu dâng lên đức Như Lai và hàng đại chúng. Đồ cúng dường ấy thuần do sức bất tư nghì của thiền định phước đức thiện căn thù thắng làm thành. Lúc cúng dường như vậy cũng chẳng vì mình mà khắp khiến vô lượng chúng sanh phát tâm xu hướng Bồ dề được lợi lành to lớn. Đồng Tử cúng dường đầy đủ khắp tất cả.

 

 Đức Thế Tôn thọ trai xong ở giữa đại chúng bảo Nguyệt Quang Đồng Tử rằng: ỘNầy thiện nam tử! Nếu có thiện nam thiện nữ an trụ nơi Đại thừa mà thật hành công hạnh bố thí cúng dường thì có tám mươi thứ công đức thù thắng.

 

 Những gì là tám mươi thứ? Đó là thành thục chúng sanh. Dùng lời khéo để nhiếp thọ. Viên mãn tướng vi diệu. Các căn chẳng kém thiếu. Bỏ rời sanh tử. Chứng nhập Niết bàn. Hết các kiết sử. Được thắng tự tại. Đầy đủ công đức. Trang nghiêm Phật độ. Quyến thuộc thanh tịnh. Có oai đức lớn. Đầy đủ trí huệ. Thành tựu công hạnh tối thượng thù thắng. Viên mãn công hạnh vô thượng vô đẳng đẳng. Trừ diệt tập khí. Tăng trưởng tất cả trí hạnh Như Lai. Thân và Xá lợi được các thế gian và hàng Thanh Văn, Duyên Giác cúng dường. Dẹp phá người ác. Có thể khiến Thiên, Long Bát Bộ Thần Vương và Phạm Thiên Vương đều sanh lòng tín ngưỡng. Có oai đức lớn. Tuyên nói khế kinh, ứng tụng, thọ ký, tự thuyết, phúng tụng, thí dụ, nhơn duyên, bổn sự, bổn sanh, phương quảng, vị tằng hữu, nhẫn đến luận nghĩa, thọ trì diễn thuyết. Lòng không biếng mỏi. Nơi pháp không lẫn tiếc. An trụ Phật đạo. Quốc độ tối thắng. Danh sắc thanh tịnh. Chứng pháp thân. Được vô sở úy. Thành tựu phước đức. Che khuất các ngoại đạo. Đủ pháp bực thiện nhơn. Bỏ việc làm kẻ ác. Tin nhơn phước trí. Hòa hiệp Phật pháp. Hàng phục chúng ma. Không có mê hoặc đối với pháp an lạc của đức Phật dạy. Phá diệt ác dục. Đủ oai đức lớn. Tu Bồ Tát hạnh. Được thắng thần thông. Bỏ rời sanh tử. Thành tựu chúng sanh. Khen vô biên hạnh. Nhiếp thọ công đức. Ủy dụ chúng sanh. Thọ dụng pháp lạc. Tu hành huệ thí. Nhập môn đại trí. Trụ nơi noãn pháp. Chủng tánh quyết định. Tu hành pháp nhẫn. An trụ Phật đạo.

 

 Nầy Đồng Tử! Nếu các thiện nam thiện nữ tu tập công hạnh bố thí thì thành tựu đầy đủ tám mươi thứ công đức thù thắng như vậy.

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

 Chư Bồ Tát đại trí

Đầy đủ hạnh bố thí

Được tám mươi công đức

Ta đã lược giảng nói

Lại có các công đức

Vô lượng khó nghĩ bàn

Đều từ bố thí sanh

Nay sẽ nói phần ít

Ông bình đẳng bố thí

Khắp đủ cả đại hội

Công hạnh bố thí ấy

Người trí phải tu tập

Bố thí ấy chứa được

Khối phước chẳng nghĩ bàn

Thân tướng hảo trang nghiêm

Tất cả đều viên mãn

Sanh xứ và chủng tộc

Quốc độ và cư gia

Danh xưng cùng sắc tâm

Tất cả đều thanh tịnh

Chư Thiên sự thần biến

Và cung điện thể nữ

Thanh tịnh vô ngại biện

Đều từ bố thí sanh

Bố thí thắng tư lương

Chư Phật đều khen ngợi

Đây là cội an trụ

Tối sơ của Bồ đề

Chư Bồ Tát tinh tiến

Không nghi hoặc bố thí

An trụ tâm quyết định

Siêng tu hạnh bố thí

Tâm bố thí như vậy

Thành tựu phước thù thắng

Bồ Tát siêng tu tập

Sẽ chứng Phật Bồ đề

Do oai lực bố thí

Thành tựu thắng thần thông

Chấn động muôn ức cõi

Chẳng tổn hại chúng sanh

Do bố thí dẫn được

Tịnh giới và đa văn

Chánh tín cùng tinh tiến

Tam muội huệ vô lậu

Do bồ thí dẫn được

Căn lực Bồ đề phần

Chánh đoạn và thần túc

Rời xa các tập khí

Do bố thí dẫn được

Âm thanh diệu thanh tịnh

Trong trăm muôn ức cõi

Khai thị vô biên pháp

Do tịnh tín hành thí

Mau được các thần thông

Vì thành tựu thần thông

Phải siêng tu bố thí

Vô lượng hàng Thiên chúng

Trăm ngàn A Tu La

Long Thần và Dạ Xoa

Cùng quyến thuộc vây quanh

Đều ngồi lầu các đẹp

Mà du hí tự tại

Các Thần Vương như vậy

Thấy người siêng bố thí

Đều đứng dậy tiếp rước

Trải tọa mời cúng dường

Người bố thí như vậy

Đầy đủ oai đức lớn

Sức thần thông tự tại

Nhiếp thọ các Thiên Vương

Cưu Bàn Trà Dạ Xoa

Thảy đều đến quy phục

Và chúng Càn Thát Bà

Cũng hiến các âm nhạc

Kẻ giặc sanh lòng lành

Người ác sẽ xa lìa

Của báu không tổn giảm

Khố tàng đều đầy đủ

Do vì tu bố thí

Thành tựu thắng tư lương

Nhẫn đến trí huệ Phật

Chẳng hành pháp ngoại đạo

Người ấy không bịnh não

Thủ hộ đà la ni

Được những sức thù thắng

Đều do bố thí sanh

Người bố thí như vậy

Tu tập đạo Bồ đề

Chẳng gặp ác tri thức

Được bạn lành đồng đạo

Còn có các Bồ Tát

Tu tập hạnh bố thí

Thành tựu bất tư nghị

Đà la ni trí huệ

Dùng vô lượng kệ tụng

Diễn thuyết các tổng trì

Tất cả không chướng ngại

Chẳng mất nơi bổn nghĩa

Tâm Bồ đề rộng lớn

Chí nguyện thường kiên cố

Đầy đủ các tịnh giới

Rời bỏ các ma nghiệp

Chẳng ham vui ngũ dục

Chuyên siêng cầu chánh niệm

Lòng thường không mê hoặc

Cũng chẳng sanh tham ái

Sân hận các phiền não

Đều biết rõ đúng thiệt

Nơi tất cả cảnh giới

Chẳng chấp chẳng mê hoặc

Người ấy khéo biết rõ

Các phiền não như vậy

Do nhơn duyên hòa hiệp

Hay sanh những lỗi lầm

Nhẫn đến nơi Phật pháp

Hoặc nhơn hoặc nhơn nhơn

Tác dụng nhơn như vậy

Tất cả đều rõ được

Người ấy hay biết rõ

Nhãn tận biên nhơn tánh

Rời xa các mê lầm

Nơi nhãn không hề nhiễm

Người ấy biết rõ được

Nhãn sanh biên biên tế

Lưu chuyển và tịch tịnh

Vô hữu với vô sanh

Nhẫn đến nhãn tịch diệt

Các nhơn tánh như vậy

Rời xa các mê hoặc

Nơi nhãn không ô nhiễm

Người ấy biết rõ được

Nhãn tiền tế ngôn thuyết

Tùy thế tục giả lập

Trong ấy không có thiệt

Người ấy hay biết rõ

Nhãn hậu tế ngôn thuyết

Tùy thế tục giả lập

Trong ấy không có thiệt

Người ấy hay biết rõ

Nhãn sanh biên biên tế

Lưu chuyển và tịch tịnh

Vô hữu với vô sanh

Nhẫn đến nhãn tịch diệt

Các ngôn thuyết như vậy

Tùy thế tục giả lập

Trong ấy không có thiệt

Người ấy hay biết rõ

Nhãn tiền tế ngôn thuyết

Chỉ nhơn duyên hòa hiệp

Trong ấy không chấp trước

Người ấy hay biết rõ

Nhãn hậu tế ngôn thuyết

Chỉ nhơn duyên hòa hiệp

Trong ấy không chấp trước

Người ấy hay biết rõ

Nhãn sanh biên biên tế

Lưu chuyển và tịch tịnh

Vô hữu với vô sanh

Nhẫn đến nhãn tịch diệt

Các ngôn thuyết như vậy

Chỉ nhơn duyên hòa hiệp

Trong ấy không chấp trước

Người ấy hay biết rõ

Nhãn tiền tế ngôn thuyết

Tự tánh không biểu thị

Trong ấy không ô nhiễm

Người ấy hay biết rõ

Nhãn hậu tế ngôn thuyết

Tự tánh không biểu thị

Trong ấy không ô nhiễm

Người ấy hay biết rõ

Nhãn sanh biên biên tế

Lưu chuyển và tịch tịnh

Vô hữu với vô sanh

Nhẫn đến nhãn tịch diệt

Các ngôn thuyết như vậy

Tự tánh không biểu thị

Trong ấy không ô nhiễm

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Sáu trần và bốn đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy

Người ấy hay biết rõ

Tham dục tức Phật đạo

Tự tánh vô sai biệt

Nơi tham không bị nhiễm

Tất cả các Phật đạo

Phải cầu nơi phiền não

Biết tánh vô sai biệt

Là nhập môn tổng trì

Nói tham là tổng trì

Tổng trì tức là tham

Biết tánh vô sai biệt

Là học môn tổng trì

Cúng dường tham như vậy

Tức là cúng dường Phật

Vì cúng dường nơi Phật

Mà thành tựu tổng trì

Người ấy hay biết rõ

Sân hận tức Phật đạo

Tự tánh vô sai biệt

Nơi sân không bị nhiễm

Sân tức là tổng trì

Tổng trì tức là sân

Biết tánh vô sai biệt

Là học môn tổng trì

Cúng dường sân như vậy

Cũng là cúng dường Phật

Do cúng dường nơi Phật

Thành tựu môn tổng trì

Người ấy hay biết rõ

Ngu si tức Phật đạo

Tự tánh vô sai biệt

Nơi si không bị nhiễm

Nếu biết rõ đúng thiệt

Biên tế của tánh si

Thì là tu Phật đạo

Thành tựu môn tổng trì

Si tức là tổng trì

Tổng trì tức là si

Biết tánh vô sai biệt

Là học môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Tức là cúng dường Phật

Do cúng dường nơi Phật

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Tức là cúng dường Pháp

Do cúng dường nơi Pháp

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Tức là cúng dường Tăng

Do cúng dường nơi Tăng

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Tức là cúng dường giới

Do cúng dường nơi giới

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tinh tiến

Vì cúng dường tinh tiến

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tán thán

Vì cúng dường tán thán

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường Phật pháp

Do cúng dường Phật pháp

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường pháp tánh

Do cúng dường pháp tánh

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường chơn như

Do cúng dường chơn như

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô sanh

Do cúng dường vô sanh

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô diệt

Do cúng dường vô diệt

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô tận

Do cúng dường vô tận

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô hữu

Do cúng dường vô hữu

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô biên

Do cúng dường vô biên

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tam hữu

Do cúng dường tam hữu

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tịch tịnh

Do cúng dường tịch tịnh

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường lưu chuyển

Do cúng dường lưu chuyển

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô chuyển

Do cúng dường vô chuyển

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô hữu

Do cúng dường vô hữu

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô sanh

Do cúng dường vô sanh

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tịch diệt

Do cúng dường tịch diệt

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường bất lai

Do cúng dường bất lai

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô hành

Do cúng dường vô hành

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường vô vi

Do cúng dường vô vi

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường khổ thảy

Do cúng dường khổ thảy

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường khổ trí

Do cúng dường khổ trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tập trí

Do cúng dường tập trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường diệt trí

Do cúng dường diệt trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường đạo trí

Do cúng dường đạo trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường pháp trí

Do cúng dường pháp trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường loại trí

Do cúng dường loại trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng vô sanh trí

Do cúng vô sanh trí

Thành tựu môn tổng trì

Cúng dường si như vậy

Là cúng dường tận trí

Do cúng dường tận trí

Thành tựu môn tổng trì

Như vậy nơi chánh đoạn

Niệm trụ và thần túc

Ngũ căn và ngũ lực

Thất giác bát chánh đạo

Gồm xa ma tha kia

Tì bát xá na thảy

Nơi chín pháp nầy

Tất cả đều như vậy.

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Nguyệt Quang Đồng Tử rằng: Nầy thiện nam tử! Nếu có chúng sanh an trụ nơi Đại thừa thành tựu môn đà la ni như đã nói ở trên thì phải xa rời tám mươi hạng người. Những ai là tám mươi hạng người ấy?

 

 Đó là những kẻ giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, có tâm nghĩ giết hại mà làm thân Phật ra máu, phá hòa hiệp Tăng, tặc trụ xuất gia, không có căn, hai căn, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tiến, tà niệm, tà định, chẳng biết chỗ, chẳng biết lúc, chẳng biết pháp, chẳng biết đạo, chẳng biết lượng, chẳng biết tự tha, đối với Phật PhápTăng và các học xứ chẳng biết tôn trọng, đối với hạnhchẳng phóng dật và cảnh giới thù thắng cũng chẳng tôn ngưỡng, chẳng biết pháp, chẳng biết luật, chẳng biết học xứ, chẳng biết tội ấy là trọng là khinh, chẳng biết giới ấy là hư là khuyết, cũng chẳng biết hạnh tu ấy là tế là thô, cũng chẳng biết nghiệp là vị lai là hiện tại, với sự hạ liệt cũng chẳng biết rõ, khen Thanh Văn thừa, phá chê pháp Như Lai, khuyến thị khai đạo Bích Chi Phật thừa, xa rời nhàm bỏ chánh đạo vô thượng, phá giới, phá kiến, phá các oai nghi, đi nơi phi đạo, nói có ngã nhơn, nói có chúng sanh, nói có thọ giả, nói có bổ đặc già la, chí ý hạ liệt, khởi tham sân si, đoạn kiến, thường kiến, không kiến vô nhơn kiến, chẳng thấy có, chẳng thấy không, chẳng thấy nghiệp, chẳng thấy tinh tiến, chẳng biết nghiệp, chẳng biết nghiệp nhơn, chẳng biết dị thục nhơn, chẳng biết các căn, chẳng biết các căn nhơn, chẳng biết giới, chẳng biết giới nhơn, chẳng biết giải thoát, chẳng biết giải thoát nhơn, chẳng biết đạo, chẳng biết đạo nhơn, chẳng biết phiền não, chẳng biết phiền não nhơn, chẳng biết thí, chẳng biết thí nhơn, chẳng biết tiền tế và hậu tế, chẳng biết tiền tế nhơn và hậu tế nhơn, chẳng biết sanh tử, chẳng biết sanh tử nhơn, chẳng biết hữu lậu, chẳng biết hữu lậu nhơn, chẳng biết tận phi tận, chẳng biết hữu phi hữu, chẳng biết biên tế phi biên tế, chẳng biết tịch tịnh phi tịch tịnh, chẳng chuyển phi chuyển, chẳng biết tánh phi tánh, chẳng biết sanh phi sanh, chẳng biết diệt phi diệt.

 

 Nầy Đồng Tử! Nếu thiện nam thiện nữ muốn thành tựu môn đà la ni đã được nói ở trên, thì phải bỏ rời tám mươi hạng người phi pháp ấy.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 Nếu người chẳng biết rõ

Nhãn sanh tận biên tế

Người ấy mê tổng trì

Trí giả phải rời xa

Nếu người biết được nhãn

Không ngã không chúng sanh

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Sanh tận lìa văn tự

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Tịch tịnh vô sở trụ

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Tự tánh vô sở trụ

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Không chuyển không sắc tướng

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Vô sanh tánh tịch diệt

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Tự tánh rời danh tướng

Chư Phật không nói được

Không khen nêu bày được

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Nếu người biết được nhãn

Tự tánh lìa danh tướng

Không ai tư duy được

Thọ trì diễn thuyết được

Người ấy trụ tổng trì

Trí giả phải thân cận

Tánh tổng trì như vậy

Văn tự chẳng nói được

Không có các phương sở

Tâm sở cũng chẳng đến

Pháp ấy không hoan hỉ

Cũng chẳng ở sân hận

Bất dộng như Sơn Vương

Dầu nói nhưng không được

Tổng trì thiệt không có

Nhẫn đến ngã cũng vậy

Ngã đã không tự tánh

Tổng trì cũng không có

Tổng trì không tự tánh

Kẻ ngu cho là có

Do đây vọng phân biệt

Chẳng tỏ sanh ưu não

Nếu biết rõ tánh tham

Nhẫn đến tổng trì không

Hai thứ phân biệt ấy

Rốt ráo bất khả đắc

Nếu biết không tánh không

Tổng trì cũng chẳng có

Nhẫn đến Bồ đề phần

Tam ma địa cũng không

Nếu người biết rõ được

Tổng trì và không tánh

Nhẫn đến tam ma địa

Thì cũng biết được nhãn

Nếu với nhãn tận biên

Khéo biết rõ như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo nhãn sanh biên

Nếu với nhãn sanh biên

Khéo biết rõ như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biên tế

Khéo biết rõ như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn tịch tịnh

Biết rõ được như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn lưu chuyển

Biết rõ được như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn vo hữu

Biết rõ được như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn vo sanh

Biết rõ được như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn tịch diệt

Biết rõ được như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết tận biên như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết sanh biên như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết biên tế như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết tịch tịnh như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết lưu chuyển như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết vô hữu như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết vô sanh như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nếu với nhãn biến dị

Biết tịch diệt như thiệt

Thì ở môn tổng trì

Rốt ráo thành tựu được

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Lục trần và từ đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy

Nếu nơi nhãn tiền tế

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn tận biên

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn sanh biên

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn biên tế

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Thì trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn tịch tịnh

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Thì trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn lưu chuyển

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Thì trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn vô hữu

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Thì trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn vô sanh

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Thì trụ môn tổng trì

Nếu nơi nhãn tịch diệt

Không tướng biến tướng dị

Không thủ không phân biệt

Thì trụ môn tổng trì

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Sáu trần và bốn đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy

Tham, sân, si, phẫn, mạn

Tật, cuống, xan, ưu, não

Quá thất, cấu, độc tiển

Bạo lưu, hắc bạch nghiệp

Bất sanh cũng bất diệt

Bất khứ cũng bất lai

Bất động cũng bất dị

Phi tác cũng phi hành

Phi minh cũng phi ám

Phi lưu bỏ bạo lưu

Vô tận và vô trụ

Phi hành phi bất hành

Phi văn tự, phan duyên

Phi xuất cũng phi nhập

Phân biệt vọng tưởng thảy

Cả sáu mươi hai môn

Đều riêng theo nghĩa lý

Tất cả đều như vậy

Nếu biết nhãn tiền tế

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn tận biên

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn sanh biên

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn biên tế

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn tịch tịnh

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn lưu chuyển

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn vô hữu

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn vô sanh

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nếu biết nhãn tịch diệt

Nhẫn đến nơi thượng hạ

Không thủ không phân biệt

Là trụ môn tổng trì

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Sáu trần và bốn đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy.

Nơi tướng bất biến của địa đại

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng vô sanh của địa đại

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng vô diệt của địa đại

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng chứng nhập của địa đại

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng xuất ly của địa đại

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng vô nguyện của địa đại

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng vô trụ của địa đại

Cùng các tướng bất lai bất khứ

Tướng vô biên và tướng vô tận

Tướng tương ưng tướng chẳng tương ưng

Tướng rời lìa danh tự kế đạt

Tướng quan sát và tướng lưu chuyển

Tướng vô hữu và tướng tu trị

Tướng không có ngôn thuyết biểu thị

Tướng tịch tịnh tướng vô sở y

Tướng niệm trụ và tướng chánh đoạn

Tướng thần túc và tướng căn lực

Tướng thất giác chi đạo vô úy

Ác tướng của địa đại như vậy

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nều nơi tướng vô xuất của ngã

Nơi tướng vô tướng tướng vô nguyện

Tướng vô trụ và tướng vô sanh

Cùng nơi tướng vô diệt của ngã

Nơi các tướng của ngã như vậy

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng dược như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Nơi tướng rời văn tự của ngã

Không có thủ trước không phân biệt

Người biết rõ ràng được như vậy

Thì thành tựu được môn tổng trì

Biết nhãn tiền và hậu tế

Rời xa nơi tướng thường tướng đoạn

Nhơn duyên tự tánh đều rỗng không

Đấng Đại Đạo Sư phương tiện nói.

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Mà phân biệt tướng nhãn

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi chơn thuyết pháp

Nếu lúc tư duy pháp

Mà phân biệt tướng nhãn

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi chánh tư duy

Nếu lúc tu tập pháp

Mà phân biệt tướng nhãn

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi chơn tu tập

Nếu biết nhãn tánh không

Thì chẳng xu Bồ đề

Chư Phật nơi người ấy

Thường hiện tiền thuyết pháp

Nếu chẳng biết được nhãn

Thì cũng chẳng biết sắc

Nếu người biết được nhãn

Thì cũng biết được sắc

Nếu người biết được sắc

Thì cũng biết được nhãn

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Tất cả đều như vậy

Nếu lúc diện thuyết pháp

Phân biệt nơi nhơn tướng

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt tướng tịch tịnh

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt nơi tướng đạo

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt nơi tướng không

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt nơi tích tập

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt nơi sự vật

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt nhãn nhiếp thủ

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Chẳng biết rõ nơi nhãn

Thì sanh lòng tham dục

Nếu biết rõ được nhãn

Thì tham dục chẳng sanh

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Sáu trần và bốn đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy

Nếu lúc diễn thuyết pháp

Phân biệt mười tám giới

Người ấy vọng phân biệt

Chẳng gọi là thuyết pháp

Nơi chí nguyện chẳng thối

Rõ thấu nơi tánh không

Được các môn tam muội

Người ấy khéo thuyết pháp

Nơi chí nguyện chẳng thối

Rời phân biệt nơi nhãn

Do vì không phân biệt

Người ấy khéo thuyết pháp

Chẳng rõ nhãn tánh không

Cũng mê nhãn tự tánh

Do vì chẳng biết rõ

Thì chẳng nên thuyết pháp

Nếu biết nhãn tánh không

Thì biết nhãn tự tánh

Do vì biết rõ nhãn

Người ấy nên thuyết pháp

Chẳng biết nhãn tánh không

Cũng mê cú tự tánh

Do vì chẳng biết rõ

Thì chẳng nên thuyết pháp

Nếy biết nhãn tánh không

Thì biết cú tự tánh

Do vì biết được rõ

Người ấy nên thuyết pháp

Chẳng biết nhãn tánh không

Cũng mê văn tự tánh

Do vì chẳng biết rõ

Thì chẳng nên thuyết pháp

Nếu biết nhãn tánh không

Thì biết văn tự tánh

Do vì biết được rõ

Người ấy nên thuyết pháp

Chẳng biết nhãn tánh không

Cũng mê danh tự tánh

Do vì chẳng biết rõ

Thì chẳng nên thuyết pháp

Nếu biết nhãn tánh không

Thì biết danh tự tánh

Do vì biết được rõ

Người ấy nên thuyết pháp

Chẳng biết nhãn tánh không

Cũng mê sắc tự tánh

Do vì chẳng biết rõ

Thì chẳng nên thuyết pháp

Nếu biết nhãn tánh không

Thì biết sắc tự tánh

Do vì biết được rõ

Người ấy nên thuyết pháp

Chẳng biết nhãn tánh không

Y thế tướng phân biệt

Chẳng khéo tùy thuận được

Điều phục các chúng sanh

Nếu biết nhãn tánh không

Chẳng y tướng phân biệt

Thì khéo tùy thuận được

Điều phục các chúng sanh

Chẳng rõ nhãn có không

Mà thuyết pháp giữa chúng

Người ấy tham lợi dưỡng

Mọi người chẳng tín thọ

Nếu biết nhãn có không

Mà thuyết pháp giữa chúng

Người ấy chẳng tham trước

Mọi người đều tín thọ

Chẳng rõ nhãn tánh không

Mà ngồi trên pháp tọa

Dầu nói nhiều thí dụ

Mọi người chẳng tín thọ

Nếu biết nhãn tánh không

Mà ngồi trên pháp tòa

Những thí dụ được nói

Mọi người đều tín thọ

Nhĩ tỷ thiệt thân ý

Sáu trần và bốn đại

Nhẫn đến thế sanh danh

Tất cả đều như vậy”.

 

Lúc đức Thế Tôn nói kinh Xuất Hiện Quang Minh nầy rồi, Nguyệt Quang Đồng Tử và các đại chúng,tất cả thế gian Trời,Người, A Tu La v.v… nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog