Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 87



PHÁP HỘI PHÁT THẮNG CHÍ NGUYỆN

THỨ HAI MƯƠI LĂM


Người ngu ở trong mộng

 Kinh sợ và trôi đắm

 Tự biết phạm tội nhiều

 Sẽ đọa ba ác đạo

 Nên sanh lòng hoan hỷ

 Ở riêng nơi rảnh vắng

 Hoặc ở a lan nhã

 Chí cầu đạo vô thượng

 Chẳng nên thấy lỗi người

 

 Tự khoe tôn thắng nhứt

 Kiêu căng gốc phóng dật

 Chớ khinh kẻ hạ liệt

 Họ ở trong chánh pháp

 Lần lượt sẽ giải thoát

 Tỳ Kheo dầu phá giới

 Mà sâu tin Tam bảo

 Đây là nhơn giải thoát

 Chẳng nên thấy lỗi họ

 Khó dẹp phục tham sân

 Chớ kinh sợ phóng dật

 Thói quen nên phải vậy

 Vì thế chẳng nên nói

 Nếu Tỳ Kheo thanh tịnh

 Rình tìm lỗi của người

 Rất là chẳng chơn thiệt

 Chẳng gọi tu chánh pháp

 Người tu hành đúng pháp

 Phải nên tự quan sát

 Chư Tỳ Kheo cầu đạo

 Bỏ rời ngôn luận ác

 Thường dùng tâm hoan hỷ

 Ở riêng nơi rảnh vắng”.

 

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Ham thích ồn ào bèn có vô lượng tội lỗi như vậy thối thất công đức không được lợi ích thêm lớn phiền não sa đọa ác đạo rời lìa bạch pháp. Nào có Bồ Tát cầu pháp lành được nghe tội lỗi nầy mà chẳng thích ở riêng rảnh vắng.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào gọi là lỗi của sự nói chuyện đời, nếu lúc quan sát Bồ Tát nên an trụ nghĩa quyết định, do quán sát nghĩa ấy mà chẳng sanh nhiệt não ?”.

 Đức Phật phán : “Nầy Di Lặc ! ! Sơ nghiệp Bồ Tát phải nên quán sát nói chuyện đời có hai mươi điều lỗi, lúc quán sát có thể làm cho Bồ Tát an trụ quyết định nghĩa, do quán nghĩa ấy mà chẳng sanh nhiệt não.

 

 Những gì gọi là ưa nói chuyện đời có hai mươi điều lỗi ?

 

 Một là lòng sanh kiêu tứ chẳng kính đa văn, hai là ở nơi các tranh luận sanh nhiều chấp trước, ba là mất chánh niệm tác ý đúng lý, bốn là làm sự chẳng nên làm thân nhiều tháo động, năm là mau chóng cao hạ hư hoại pháp nhẫn, sáu là tâm thường cương cường chẳng huân tu thiền định trí huệ, bảy là nói phi thời bị ngôn luận ràng buộc, tám là chẳng thể kiên cố chứng Thánh trí, chín là chẳng được Thiên Long cung kính, mười là bị người biện tài thường có lòng khinh rẻ, mười một là bị người thân chứng quở trách, mười hai là chẳng an trụ chánh tín thường có lòng hối hận, mười ba là lòng nhiều nghi hoặc dao động chẳng an, mười bốn là như hàng xướng kỹ theo dõi âm thanh, mười lăm là nhiễm trước các dục lạc theo cảnh lưu chuyển, mười sáu là chẳng quan sát chơn thiệt phỉ báng chánh pháp, mười bảy là có mong cầu chi thường chẳng được toại nguyện, mười tám là tâm chẳng điều thuận bị người chê bỏ, mười chín là chẳng biết pháp giới tùy thuận ác hữu, hai mươi là chẳng rõ các căn hệ thuộc phiền não”.

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 

 “Kiêu ngạo nơi đa văn

 Chấp trước các tranh luận

 Thất niệm bất chánh tri

 Đây là lỗi chuyện đời

 Xa rời chánh tư duy

 Thân tâm chẳng tịch tĩnh

 Thối thất nơi pháp nhẫn

 

 Đây là lỗi thế thoại

 Tâm họ chẳng điều thuận

 Xa rời xa ma tha

 Và tỳ bát xá na

 Đây là lỗi thế thoại

 Chẳng tôn kính Sư Trưởng

 Ưa thích các thế luận

 Trí huệ chẳng kiên cố

 Đây là lỗi thế thoại

 Chư Thiên chẳng cung kính

 Long thần cũng như vậy

 Thối thất nơi biện tài

 Đây là lỗi thế thoại

 Bực thánh thường quở trách

 Các người đam mê ấy

 Luống uổng nơi thọ mạng

 Đây là lỗi thế thoại

 Các hành đều khuyết giảm

 Xa lìa đại Bồ đề

 Mạng chung sanh ưu não

 Đây là lỗi thế thoại

 Nghi hoặc tâm giao động

 Như gió thổi động cỏ

 

 Trí huệ chẳng kiên cố

 Đây là lỗi thế thoại

 Ví như người xướng kỹ

 Khen nói là dũng kiện

 Người ấy cũng như vậy

 Đây là lỗi thế thoại

 Theo dõi ngữ ngôn đời

 Nhiễm trước các cảnh dục

 Thường làm những tà đạo

 Đây là lỗi thế thoại

 Mong cầu lòng chẳng toại

 Siểm khúc nhiều tranh luận

 Xa rời các Thánh hạnh

 Đây là lỗi thế thoại

 Người ngu được chút lợi

 Lòng họ thường dao động

 Như khỉ vượn tháo nhiễu

 Đây là lỗi thế thoại

 Nhiều thối thất trí huệ

 Không có lòng giác ngộ

 Bị kẻ ngu nhiếp trì

 Đây là lỗi thế thoạ

 Mê hoặc nơi mắt tai

 

 Nhẫn đến ý cũng vậy

 Thường cùng phiền não chung

 Đây là lỗi thế thoại

 Kẻ ngu ưa thế thoại

 Trọn đời thường luống qua

 Chẳng bằng suy nhứt nghĩa

 Được lợi ích vô biên

 Ví như vị ngọt mía

 Dầu chẳng rời vỏ đốt

 Mà được vị ngọt ngon

 Vỏ đốt như nói chuyện

 Nghĩa lý như vị ngọt

 Vì thế bỏ hư ngôn

 Suy gẫm nơi thiệt nghĩa

 Chư Bồ Tát trí huệ

 Hay biết lỗi thế thoại

 Nên thường thích suy gẫm

 Công đức đệ nhứt nghĩa

 Pháp vị và nghĩa vị

 Giải thoát vị đệ nhứt

 Ai là người có trí ?

 Mà lòng chẳng ưa thích

 Vì thế nên phải bỏ

 

 Các ngôn luận vô lợi

 Thường ưa siêng suy gẫm

 Đệ nhứt nghĩa thù thắng

 Pháp đệ nhứt như vậy

 Được chư Phật ngợi khen

 Vì thế người trí sáng

 Nên vui siêng tu tập”.

 

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đức Như Lai khéo hay nói lỗi của thế thoại và công đức lợi ích suy gẫm nghĩa thù thắng, nào có Bồ Tát chí cầu trí huệ chơn thiệt của Phật mà lại còn ưa chuyện trò sự đời hư cuống.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là lỗi của ngủ nghỉ, nếu lúc quán sát Bồ Tát nên phải phát khởi tinh tấn chẳng sanh nhiệt não ?”.

 

 Đức Phật phán : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán sát ngủ nghỉ có hai mươi điều lỗi, lúc quán sát có thể làm cho Bồ Tát phát khởi tinh tấn ý nguyện chẳng mỏi : Một là giải đãi lười nhác, hai là thân thể trầm trọng, ba là nhan sắc tiều tụy, bốn là thêm tật bịnh, năm là hơi nóng ấm kém yếu, sáu là ăn chẳng tiêu hóa, bảy là thân thể sanh mụn ghẻ, tám là chẳng siêng tu tập, chín là thêm lớn ngu si, mười là trí huệ yếu kém, mười một là da thứa tối đục, mười hai là Phi Nhơn chẳng kính, mười ba là việc làm ngu độn, mười bốn là phiền não ràng buộc, mười lăm là phiền não che lấp tâm trí, mười sáu là chẳng thích pháp lành, mười bảy là bạch pháp tổn giảm, mười tám là làm việc hạ tiện, mười chín là ghét ganh tinh tấn, hai mươi là bị người khinh rẻ”.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

 

 “Thân nặng không nghi kiểm

 Giải đãi ít kham nhiệm

 Nhan sắc không sáng nhuần

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Người ấy nhiều bịnh não

 Tích tập nhiều phóng nhiệt

 Tứ đại ngược trái nhau

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Ăn uống không tiêu hóa

 Thân thể không sáng nhuần

 Tiếng nói chẳng trong suốt

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Thân họ sanh ghẻ chốc

 

 Ngày đêm thường say ngủ

 Các trùng độc nảy sanh

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Thối thất hạnh tinh tiến

 Thiếu hụt các của báu

 Nhiều mộng không giác ngộ

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Lưới si mê thêm lớn

 Thích ưa các kiến chấp

 Mạnh chắc khó đối trị

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Tổn giảm các trí huệ

 Thêm lớn các ngu si

 Chí ý thường hạ liệt

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Họ ở a lan nhã

 Mà lòng thường biếng lười

 Quỷ thần được tiện lợi

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Mù mờ mất chánh niệm

 Phúng tụng chẳng thông thuộc

 Thuyết pháp nhiều lãng quên

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 

 Do si sanh mê lầm

 An trụ trong phiền não

 Lòng họ chẳng an vui

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Công đức đều tổn giảm

 Thường sanh lòng lo buồn

 Thêm lớn các phiền não

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Xa rời các thiện hữu

 Cũng chẳng cầu chánh pháp

 Thường đi trong phi pháp

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Chẳng mong cầu pháp lạc

 Tổn giảm các công đức

 Xa rời các bạch pháp

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Tâm người ấy khiếp nhược

 Ít khi có hoan hỷ

 Tay chưn thường ốm gầy

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Tự biết mình giải đãi

 Ghét ganh người tinh tiến

 Thích rao nói lỗi người

 

 Là lỗi ưa ngủ nghỉ

 Người trí hiểu lỗi ấy

 Thường xa rời ngủ nghỉ

 Kẻ ngu thêm kiến chấp

 Vô ích tổn công đức

 Người trí thường tinh tiến

 Siêng tu đạo thanh tịnh

 Thoát khổ được an lạc

 Chư Phật thường ngợi khen

 Các kỹ nghệ thế gian

 Và công xảo xuất thế

 Đều do sức tinh tiến

 Người trí phải tu tập

 Nếu người hướng Bồ đề

 Biết rõ lỗi ngủ nghỉ

 An trụ sức tinh tiến

 Giác ngộ sanh tàm quý

 Vì thế những người trí

 Thường sanh lòng tinh tiến

 Bỏ rời sự ngủ nghỉ

 Gìn giữ giống Bồ đề”.

 

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Kẻ ưa ngủ nghỉ có vô lượng lỗi lầm như vậy. Nếu ngưòi nào được nghe mà chẳng sanh lòng lo lắng nhàm lìa để phát khởi tinh tiến, nên biết rằng người này rất ngu si.

 

 Nếu Bồ Tát có chí cầu Vô thượng Bồ đề nghe nói cú nghĩa chơn thiệt công đức lợi ích như vậy mà đối với pháp lành chẳng phát khởi tinh tiến an trụ các phần Bồ đề lại sanh lòng giải đãi thì không bao giờ có.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là lỗi trong các sự vụ mà lúc quan sát khiến chư Bồ Tát chẳng kinh doanh sự vụ ?”.

 

 Đức Phật dạy : “Nầy Di Lặc ! Hàng Bồ Tát sơ nghiệp phải nên quan sát người ưa kinh doanh sự vụ có hai mươi điều lỗi, lúc quan sát như vậy có thể làm cho Bồ Tát chẳng kinh doanh sự vụ mà siêng tu tập Phật đạo

 

 Những gì là hai mươi lỗi về kinh doanh sự vụ ?

 Một là ham thích nghiệp hạ liệt thế gian. Hai là bị chư Tỳ Kheo chuyên đọc tụng tu hành khinh rẻ. Ba là bị chư Tỳ Kheo chuyên tu thiền định quở trách. Bốn là tâm thường phát khởi nghiệp sanh tử lưu chuyển từ vô thỉ. Năm là luống thọ sự cúng thí của các cư sĩ có tín tâm. Sáu là lòng tham ưa tài vật. Bảy là thường ưa rộng mở sự vụ thế gian. Tám là tưởng nhớ gia nghiệp mà lòng thường lo lắng. Chín là tánh tình hung dữ phát ngôn thô lỗ. Mười là lòng thường tưởng nhớ gia nghiệp. Mười một là ham thích món ngon thêm lớn tham dục. Mười hai là các nơi không lợi dưỡng thì chẳng sanh lòng hoan hỷ. Mười ba là hay sanh nghiệp não hại chướng ngại. Mười bốn là thường ưa thân cận các Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Mười lăm là chỉ nhớ ăn mặc mà qua ngày đêm. Mười sáu là luôn hỏi việc làm ăn thế gian. Mười bảy là thường ưa nói lời phi pháp. Mười tám là cậy mình kinh doanh sự vụ mà sanh kiêu mạn. Mười chín là chỉ tìm lỗi người mà chẳng tự quan sát. Hai mươi là đối với người thuyết pháp ôm lòng khinh rẻ”.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

 

 “An trụ nghiệp hạ liệt

 Rời xa hạnh thù thắng

 Thối thất lợi ích lớn

 Là lỗi ưa sự vụ

 Bị chư đại Tỳ Kheo

 Tụng kinh và tham thiền

 Khinh khi và quở trách

 Là lỗi ưa sự vụ

 

 Thường tạo nghiệp sanh tử

 Xa rời nhơn giải thoát

 Luống thọ của tín thí

 Là lỗi ưa sự vụ

 Thích nhận các của báu

 Chẳng được thì lo khổ

 An trụ hạnh hạ liệt

 Là lỗi ưa sự vụ

 Người ấy nhiều ái nhiễm

 Qua lại nhà dâm nữ

 Như chim chui vào lồng

 Là lỗi ưa sự vụ

 Thường lo rầu gia nghiệp

 Luôn ôm lòng nóng khổ

 Lời nói người chẳng tin

 Là lỗi ưa sự vụ

 Chẳng thích nghe thầy dạy

 Chống trả lại khinh tiện

 Hủy phạm giới thanh tịnh

 Là lỗi ưa sự vụ

 Lòng họ nhiều tưởng nhớ

 Siêng toan lo nghiệp đời

 Chẳng thể tu định huệ

 

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Lòng tham thường xí thạnh

 Thích ưa những ngon đẹp

 Không hề biết tri túc

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Được lợi lòng vui mừng

 Thất lợi lòng buồn lo

 Tham lẫn không từ tâm

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Hại người không xót thương

 Thêm lớn những nghiệp ác

 Dây ái cột chặt nhau

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Xa rời các Sư Trưởng

 Gần gũi các bạn dữ

 Chê đuổi người trì giới

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Ngày đêm không tưởng khác

 Chỉ nhớ đến ăn mặc

 Chẳng thích các công đức

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Thường hỏi chuyện thế gian

 Chẳng ưa lời xuất thế

 

 Say mê các tà thuyết

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Tự thị biết công việc

 Khinh mạn chư Tỳ Kheo

 Chẳng khác kẻ cuồng say

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Thường rình tìm lỗi người

 Chẳng thấy lỗi của mình

 Khinh chê người có đức

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Người ngu si như vậy

 Không có phương tiện hay

 Khinh mạn người thuyết pháp

 Là lỗi nhiều sự vụ

 Sự nghiệp hạ liệt ấy

 Có đủ những lỗi lầm

 Đâu có người trí huệ

 Lại ưa học tập nó

 Nghiệp thanh tịnh thù thắng

 Đầy đủ các công đức

 Đây là chỗ người trí

 Ưa thích thường học tập

 Nếu kẻ ưa sự đời

 

 Người trí nên quở trách

 Như người bỏ thất bảo

 Tham lấy những sỏi đá

 Thế nên người trí sáng

 Nên bỏ sự nghiệp đời

 Phải cầu pháp thắng thượng

 Chư Phật thường khen ngợi”.

 

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Chư Bồ Tát ấy bỏ rời hạnh nghiệp tinh tiến thù thắng mà phát khởi sự vụ hạ liệt thế gian, nên biết họ là kẻ thiểu trí giác huệ cạn kém”.

 

 Đức Phật dạy : “Nầy Di Lặc ! Nay ta bảo thiệt ông : Nếu có Bồ Tát chẳng tu công hạnh chẳng dứt phiền não chẳng tập thiền tụng kinh chẳng cầu đa văn, ta gọi người ấy chẳng phải người xuất gia.

 

 Nầy Di Lặc ! Nếu có người siêng tu công hạnh trí đoạn, trí xuất sanh, trí thành tựu, chẳng làm nghiệp thế gian, chẳng kinh doanh sự vụ, ta gọi người nầy an trụ lời dạy Như Lai.

 

 Nếu là Bồ Tát thì chẳng nên ưa nghiệp thế gian kinh doanh sự vụ. Nếu ưa làm thì ta gọi là kẻ an trụ sanh tử. Vì thế nên chư Bồ Tát phải xa rời.

 

 Nầy Di Lặc ! Nếu có Bồ Tát kinh doanh nhiều sự vụ xây tạo tháp bảy báu khắp cõi Đại Thiên cũng chẳng làm cho ta hoan hỷ, cũng chẳng phải cung kính cúng dường ta.

 

 Nầy Di Lặc ! Nếu có Bồ Tát ở nơi pháp tương ưng với Ba la mật, cho đến thọ trì bài kệ bốn câu rồi đọc tụng tu hành giảng nói cho người, đây nói là cung kính cúng dường ta. Tại sao? Vì chư Phật Bồ đề từ đa văn mà xuất sanh chớ chẳng phải từ các sự vụ.

 

 Nầy Di Lặc ! Nếu có Bồ Tát kinh doanh nhiều sự vụ khiến các Bồ Tát trì tụng tu hành giảng thuyết đồng kinh doanh sự vụ, nên biết đó là tăng trưởng nghiệp

 

 chướng không có phước lợi. Tại sao ? Vì ba thứ phước nghiệp đã được nói đều từ trí huệ mà phát sanh. Vì thế nên Bồ Tát kinh doanh sự vụ đối với chư Bồ Tát trì tụng tu hành diễn thuyết chẳng nên làm chướng ngại. Chư Bồ Tát trì tụng diễn thuyết đối với chư Bồ Tát tu thiền định chẳng nên làm chướng ngại lưu nạn.

 

 Nầy Di Lặc ! Chư Bồ Tát kinh doanh sự vụ trong một Diêm Phù Đề nên cúng dường thân cận thừa sự một Bồ Tát đọc tụng tu hành diễn thuyết. Chư Bồ Tát trong một Diêm Phù Đề đọc tụng tu hành diễn thuyết nên thân cận thừa sự cúng dường một Bồ Tát chuyên cần tu thiền định. Thiện nghiệp như vậy được Như Lai tùy hỉ được Như Lai hứa khả.

 

 Nếu thừa sự cúng dường Bồ Tát siêng tu trí huệ sẽ được khối phước đức vô lượng. Tại sao ? Vì nghiệp trí huệ là vô thượng tối thắng siêu hơn tất cả hành nghiệp của tam giới. Vì thế nên có Bồ Tát nào phát khởi tinh tiến thì nên siêng tu tập trí huệ”.

 

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Đức Như Lai đã khéo nói những lỗi lầm của hàng sơ nghiệp Bồ Tát ưa thích ồn náo nói chuyện thế gian ngủ nghỉ và nhiều sự vụ.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào là lỗi của hí luận mà lúc quan sát khiến chư Bồ Tát sẽ an trụ tịch tĩnh không có những tranh luận.

 

 Đức Phật dạy : “Nầy Di Lặc ! Sơ nghiệp Bồ Tát hí luận có vô lượng vô biên lỗi lầm nay ta lược nói hai mươi lỗi :

 

 Một là hiện tại sanh nhiều khổ não, hai là tăng trưởng sân khuể thối thất nhẫn nhục, ba là bị kẻ oán thù làm hại, bốn là ma và dân

 ma đều vui mừng, năm là thiện căn chưa sanh đều chẳng sanh, sáu là thiện căn đã sanh hay bị thối thất, bảy là thêm lòng oán ghét đấu tranh, tám là gây nghiệp địa ngục ác thú, chín là sẽ mắc quả xấu ác, mười là lưỡi chẳng dịu mềm nói năng cứng rít, mười một là giáo pháp được thọ chẳng thể ghi nhớ, mười hai là với kinh chưa từng nghe khi nghe không hiểu được, mười ba là bị chư thiện tri thức bỏ rời, mười bốn là mau gặp các ác tri thức, mười lăm là tu hành đạo hạnh khó được xuất ly, mười sáu là thường phải nghe lời không vừa ý, mười bảy là sanh vào chỗ nào cũng nhiều nghi lầm, mười tám là thường sanh chỗ nạn chẳng được nghe chánh pháp, mười chín là tu hành bạch pháp thì bị chướng ngại, hai mươi là chỗ thọ dụng bị nhiều oán ghét. Bồ Tát ham hí luận có hai mươi lỗi như vậy”.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

 “Hiện đời thường khổ não

 Mất nhẫn nhiều sân hận

 Oán thù sanh lòng hại

 Là lỗi ưa hí luận

 Ma và quyến thuộc ma

 Đều sanh lòng hoan hỉ

 

 Hư mất các pháp lành

 Là lỗi ưa hí luận

 Lành chưa sanh chẳng sanh

 Thường ở trong đấu tranh

 Gây tạo nghiệp ác đạo

 Là lỗi ưa hí luận

 Thân hình nhiều thô xấu

 Sanh vào nhà hạ liệt

 Phát ngôn lời cứng rít

 Là lỗi ưa hí luận

 Nghe pháp chẳng nhớ được

 Hoặc nghe chẳng lọt tai

 Thường xa rời thiện hữu

 Là lỗi ưa hí luận

 Gặp gỡ các ác hữu

 Tu hành khó xuất ly

 Thường nghe lời trái ý

 Là lỗi ưa hí luận

 Tùy họ sanh chỗ nào

 Thường ôm lòng nghi lầm

 Chẳng hiểu được giáo pháp

 Là lỗi ưa hí luận

 Thường sanh trong bát nạn

 

 Xa rời chỗ không nạn

 Có đủ sự vô ích

 Là lỗi ưa hí luận

 Pháp lành nhiều chướng ngại

 Hư mất chánh tư duy

 Thọ dụng bị oán ghét

 Là lỗi ưa hí luận

 Các lỗi lầm như vậy

 Đều do nơi hí luận

 Vì thế nên người trí

 Phải mau xa rời nó

 Những người ưa hí luận

 Khó chứng đại Bồ đề

 Vì thế nên người trí

 Cũng chẳng nên thân cận

 Chỗ hí luận tranh cãi

 Phát sanh nhiều phiền não

 Người trí phải xa rời

 Cách xa trăm do tuần

 Cũng chẳng cất nhà ở

 Gần những chỗ hí luận

 Vì thế người xuất gia

 Chẳng ở nơi tranh luận

 

 Xuất gia không ruộng nhà

 Vợ con và tôi tớ

 Cũng không có chức vị

 Cớ chi sanh tranh luận

 Xuất gia ở tịch tĩnh

 Thân mặc toàn pháp phục

 Tiên thần đều kính thờ

 Phải tu tâm nhẫn nhục

 Những người ưa hí luận

 Thêm lớn lòng độc hại

 Sẽ phải đọa ác thú

 Vì thế phải nhẫn nhục

 Tù cấm và xiềng xích

 Hình phạt và đánh khảo

 Các sự khổ như vậy

 Đều do nơi tranh luận

 Những người ưa hí luận

 Thường gặp ác tri thức

 Danh tiếng bị hư mất

 Luôn không lòng hoan hỉ

 Nếu người bỏ tranh luận

 Không ai rình gặp dịp

 Quyến thuộc chẳng trái lìa

 

 Thường được gặp thiện hữu

 Nơi đạo được thanh tịnh

 Nghiệp chướng hết không thừa

 Xô dẹp các quân ma

 Siêng tu hạnh nhẫn nhục

 Tranh luận nhiều tội lỗi

 Vô tranh nhiều công đức

 Nếu là người tu hành

 Phải an trụ nhẫn nhục”.

 

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Hi hữu Thế Tôn có thể khéo nói lỗi lầm của hí luận như vậy khiến chư Bồ Tát sanh lòng giác ngộ.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Đời mạt thế sau trong năm trăm năm, có Bồ Tát nghe nói lỗi hí luận như vậy hay sanh lòng ưu hối rời lìa phiền não chăng ?”

 

 Đức Phật dạy : “Nầy Di Lặc ! Đời mạt thế sau trong năm trăm năm ít có Bồ Tát hay sanh ưu hối lìa phiền não, có nhiều Bồ Tát tâm cang cường chẳng tôn kính nhau, ôm lòng tăng thượng mạn phải trái lẫn nhau, họ nghe nói nghĩa thú thậm thâm công đức thù thắng như vậy, dầu họ trì đọc tụng diễn thuyết, nhưng vì nghiệp chướng sâu nặng nên chẳng sanh được công đức thù thắng, nên họ chẳng tin, nghi hoặc kinh điển nầy rồi chẳng còn thọ trì diễn thuyết. Bấy giờ ma Ba Tuần thấy sự ấy, muốn gạt gẫm liền hiện hình Tỳ Kheo đến chỗ họ bảo rằng : Các kinh điển ấy là do người thế tục giỏi văn từ chế tạo ra, chẳng phải do Như Lai tuyên nói. Tại sao ? Vì công đức lợi ích trong kinh ấy nói các ngài đều chẳng được. Do lời gạt gẫm của ma Ba Tuần mà họ sanh lòng nghi hoặc đối với khế kinh thậm thâm tương ưng với nghĩa lợi tánh không nầy rồi phát khởi tranh luận chẳng còn thọ trì đọc tụng diễn thuyết.

 

 Nầy Di Lặc ! Các người ngu si ấy chẳng biết được do nghiệp chướng của họ nên chẳng được công đức thù thắng, lúc nghiệp chướng tiêu rồi họ quyết định sẽ được”.

 Di Lặc Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Như Phật đã nói công đức của đức A Di Đà Phật và Cực Lạc thế giới. Nếu có chúng sanh phát mười tâm nguyện, tùy mỗi tâm chuyên niệm A Di Đà Phật, khi mạng chung người ấy sẽ được vãng sanh Thế Giới Cực Lạc.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Những gì là phát mười tâm nguyện, do tâm ấy niệm Phật A Di Đà mà sẽ được vãng sanh thế giới Cực Lạc của đức Phật ấy ?

 

 Đức Phật dạy : “Nầy Di Lặc ! Mười tâm nguyện như vậy chẳng phải kẻ phàm ngu bất thiện đủ phiền não mà phát được.

 

 Những gì là mười tâm nguyện ?

 

 Một là đối với tất cả chúng sanh phát khởi tâm đại từ không làm tổn hại.

 Hai là đối với tất cả chúng sanh phát khởi tâm đại bi không làm bức não.

 Ba là đối với chánh pháp của Phật phát khởi tâm ưa thích thủ hộ chẳng tiếc thân mạng.

 Bốn là đối với tất cả pháp phát sanh thắng nhẫn không có tâm chấp trước.

 Năm là phát tâm nguyện thanh tịnh cung kính tôn trọng chẳng tham lợi dưỡng.

 Sáu là phát tâm cầu Phật Nhứt thiết chủng trí không hề quên mất bất luận thời gian nào.

 Bảy là đối với tất cả chúng sanh phát tâm tôn trọng cung kính không hạ liệt.

 Tám là chẳng ham thế luận đối với Bồ đề phân sanh tâm quyết định.

 Chín là tâm thanh tịnh trồng các thiện căn không tạp nhiễm.

 Mười là đối với chư Phật Như Lai rời bỏ các tướng phát khởi tâm tùy niệm.

 

 Nầy Di Lặc ! Đây là mười tâm nguyện. Do phát mười tâm nguyện ấy mà Bồ Tát sẽ được vãng sanh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.

 

 Nầy Di Lặc ! Trong mười tâm nguyện ấy, tùy thành tựu một tâm nào rồi ưa muốn sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, nếu người nầy chẳng được vãng sanh thì không bao giờ có”.

 

 Tôn giả A Nan bạch rằng : “Hi hữu Thế Tôn hay khai thị diễn nói công đức chơn thiệt của Như Lai, phát khởi chí nguyện thù thắng của Bồ Tát.

 

 Bạch đức Thế Tôn ! Kinh nầy sẽ đặt tên là gì ? Chúng tôi sẽ thọ trì như thế nào ?”.

 

 Đức Phật dạy : “Nầy A Nan ! Kinh nầy tên kinh Phát Khởi Bồ Tát Chí Nguyện Thù Thắng, cũng gọi là kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn. Các ông nên thọ trì như vậy.

 Đức Phật nói kinh nầy rồi, Di Lặc Bồ Tát và chư Thanh Văn tất cả thế gian Thiên Nhơn, A Tu La, Càn Thát Bà v.v… nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog