Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

KINH ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 22



PHÁP HỘI

MẶC GIÁP TRANG NGHIÊM

THỨ BẢY


 Nầy Vô Biên Huệ! Nếu đại Bồ Tát chưa rời thân kiến thì chẳng gọi là mặc giáp trụ ngoi nơi Đại thừa, với tế môn kia là có chấp trước. Dầu có muốn dứt tế lại khởi tưởng niệm dứt tế, lại là có phân biệt tiền tế hậu tế.

 

 Nếu đại Bồ Tát đã rời thân kiến thì gọi là mặc đại giáp trụ ngồi nơi Đại thừa, với tế môn ấy chẳng có chỗ chấp đã vượt quá hai tế dùng thừa an lạc mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát dùng sức đại trí huệ, ở nơi tất cả pháp trụ tế, có thể chẳng đoạn chẳng phá mà phương tiện khôn khéo nhiếp lấy chỉ quán tu tập vô tướng, được chứng vô tướng thì được chư Phật trao cho ánh sáng pháp. Do ánh sáng pháp mà tất cả tế đoạn dứt. Đối với tế đoạn ấy cũng không nắm lấy, không có chút ít tế nào ở môn kia hoặc là tương ưng hay chẳng tương ưng, hoặc ghi nhớ hay chẳng ghi nhớ. Với tất cả pháp, phương tiện khôn khéo an trụ ở chỉ quán bèn được vô biên ánh sáng đại pháp. Vì ánh sáng đại pháp nên rời xa tói tăm bố úy mà dụng đại pháp tràng, phát đại phạm âm, rống đại sư tử mà bảo chúng sanh rằng: Mọi người mau đến nơi Đại thừa nầy, đại an lạc thừa nầy, đại điều ngự thừa nầy, đại phát thu thừa nầy để hướng đến Vô thượng Bồ đề. Đại Bồ Tát vì chúng sanh mà diễn ánh sáng pháp. Vì ánh sáng pháp có thể làm cho chúng sanh mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa nầy.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Đa(i Bồ Tát ở nơi Đại thừa nầy, ở nơi đại giáp trụ nầy chớ có lòng lẫn tiếc, nên nguyện cầu cho chúng sanh phát tâm Bồ đề mặc giáp trụ nầy và ngồi Đại thừa nầy.

 

 Các chúng sanh ấy ở nơi Đại thừa và đại giáp^trụ nầy cũng chớ lẫn tiếc mà phải luân chuyển khuyến cáo chúng sanh khác, lại cũng nguyện cầu các chúng sanh mặc giáp trụ và ngồi Đại thừa nầy để được xuất ly.

 

 Lúc chư đại Bồ Tát an trụ trong hạnh nguyện ấy, các Ngài nhiếp thủ Phật quốc, thanh tịnh Phật quốc, nhiếp thủ Thanh Văn và chư Bồ Tát để được viên mãn công đức. Do biển đại công đức vô biên nầy mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Đại thừa nầy đồng với pháp giới, bờ nầy hay bờ kia đều không có gì để được, nhưng có thể vận tải tất cả chúng sanh từ đây đến ở trong pháp giới, tương ưng với pháp giới, tương ưng với giáp trụ không có chỗ tương ưng.

 

 Nếu ở nơi Đại thừa đồng pháp giới nầy mà chuyên cần tu tập thi hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Như Pháp giới không có nhiễm bụi trần, không ai phá hoại được, không gì nhiễm được.

 

 Cũng vậy, Đại thừa nầy không bị hoại, không bị nhiễm. Vì không hoại không nhiễm nên sẽ đến nhứt thiết chủng trí. Vì thế nên thừa nầy tên là Đại thừa. Thừa nầy vô ngại, tất cả Thiên, Nhơn, A Tu La ở thế gian chẳng làm thối chuyển được.

 

 Do vì thừa nầy không chấp trước nên sẽ đến nhứt thiết chủng trí, vì thế nên thừa nầy tên là Đại thừa.

 

 Gọi là Đại thừa có nghĩa là đại trang nghiêm. Tất cả trang nghiêm đều vào trong Đại thừa nầy".

 

 Vô Biên Huệ Bồ Tát bạch rằng:" Bạch đức Thế Tôn! Trong Đại thừa nầy há lại có những trang nghiêm hữu vi ư?".

 

 Đức Phật phán:" Nầy Vô Biên Huệ! Đúng như vậy. Ta tùy thuận thế tục nên ở trong Đại thừa nầy cũng nói tất cả trang nghiêm hửu vi.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Như Chuyển Luân Vương, Đế Thích và Phạm Vương đều từ Đại thừa nầy xuất sanh, hoặc đã xuất sanh, hoặc sẽ xuất sanh, dầu ở ngôi tôn quý mà chẳng bị lỗi lầm sanh tử phiền não làm nhiễm trước, có thể ở nơi ngũ dục mỗi mỗi đều vừa chừng.

 Đã vừa chừng rồi thì nhàm bỏ mà có thể biết rõ được đạo xuất ly.

 

 Nếu chư đại Bồ Tát ngồi Đại thừa nầy dầu thọ lãnh sanh tử nhưng ở đâu cũng chẳng bị ô nhiễm mà thấy được sự lỗi lầm có thể biết xuất ly. Nếu ở nơi đây ta chưa nói các pháp và các trang nghiêm, do tướng của thừa nầy, chư đại Bồ Tát ấy cũng có thể biết được các pháp và các trang nghiêm kia mà hướng đếnVô thượng Bồ đề".

 

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

 "Đại thừ vô thượng thừa

 Thừa nầy bất tư nghị

 Nếu ai ngồi thừa nầy

 Đều sẽ được xuất ly

 Thừa nầy bất tư nghị

 Vô lượng vô biên tế

 Là chỗ y chỉ lớn

 Nên gọi là Đại thừa

 Tất cả các chúng sanh

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 Thừa nầy vẫn không giảm

 Cũng lại không có tăng

 Tất cả các chúng sanh

 Ngồi nơi Đại thừa nầy

 An lạc mà hướng đến

 Trong ấy không khổ não

 Nếu chư đại Bồ Tát

 Từ thừa nầy hướng đến

 Thẳng tiến không làm khác

 Thân tâm chẳng mỏi nhọc

 Soi sáng khắp thế gian

 Trời, Người, A Tu La

 Sẽ ở Đại thừa nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Chói che các Duyên Giác

 Và các Thanh Văn thừa

 Ở nơi Đại thừa nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Không lai cũng không khứ

 Không trụ không tiền tế

 Không hậu tế trung tế

 Không được không chỗ thấy

 Ba đời đều bình đẳng

 Dường như trong hư không

 Thừa nầy cũng như vậy

 Rời xa các phiền não

 Thừa nầy không đối đãi

 Không chướng cũng không ngại

 Hay cứu tất cả loài

 Chỗ hướng không chấp trước

 Thừa nầy không có lượng

 Cũng không tất cả tướng

 Tự tánh bất khả đắc

 Vô úy chẳng nghĩ bàn

 Có ai ngồi thừa nầy

 Thì được vô sở úy

 Ở trong chư Phật pháp

 Không chướng cũng không ngại.

 Dùng thừa nầy hướng đến

 Chiếu sáng khắp thế gian

 Như mặt nhựt sáng lớn

 Không lúc nào chẳng chiếu

 Thừa nầy chẳng hoại được

 Không gì che chói được

 Vô lượng đức tư lương

 Mà hướng đến vô thượng

 Thừa nấy siêu thế gian

 Ra khỏi hẳn ba cõi

 Rời xa các tối tăm

 Thẳng đến quả vô lậu

 Thừa nầy chỉ nhiếp lấy

 Tất cả chư Bồ Tát

 Còn các chúng sanh khác

 Trong ấy chẳng dung thọ

 Nếu có người trí huệ

 Trong vô lượng ngàn kiếp

 Siêng to tân phương tiện

 Mới ngồi được thừa nầy

 Thanh Văn và Duyên Giác

 Tất cả hàng ngoại đạo

 Tiểu trí và tà kiến

 Chẳng ngòi được thừa nầy

 Nếu có các chúng sanh

 Hướng đến nơi phi đạo

 Hạng nầy kém phước đức

 Chẳng kham nghe thừa nầy

 Nếu có các chúng sanh

 Với pháp bất tư nghị

 Khôn khéo mà do hí

 Ngồi được Đại thừa nầy

 Tùy theo họ kiến lập

 Những thệ nguyện thù thắng

 Ở trong chánh đạo nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Thừa nầy không biên tế

 Cũng không có trung tế

 Biên tế và trung tế

 Thảy đều bất khả đắc

 Bởi tế bất khả đắc

 Nên thừa nầy không tế

 Vì tất cả tế đoạn

 Nên an lạc hướng đến

 Thừa nầy vô biên tế

 Vô biên là thừa tế

 Thừa nầy vô lượng tế

 Vô lượng là thừa nầy

 Thừa nầy vô tế đoạn

 Vô tế là tế đoạn

 Chẳng phân biệt nơi tế

 Đoạn cũng chẳng thể được

 Thừa tế không biên tế

 Cũng không có trung tế

 Cũng không tế không tế

 Tế tánh vô sở hữu

 Nơi tế không tế tướng

 Chẳng phải tế làm tướng

 Ở trong các tế ấy

 Tế tướng vô sở hữu

 Chẳng phải tế nói môn

 Thừa nầy đã vượt quá

 Ở chỗ quá lượng kia

 Tương ưng bất khả đắc

 Ta nói đoạn thường tế

 Hữu biên vô biên tế

 Tất cả tế như vậy

 Tế kia chẳng phải tế

 Tất cả tế vô biên

 Tế tướng vô sở hữu

 Tự tánh tất cả tế

 Trong ấy chẳng phân biệt

 Trong các tế như vậy

 Vì dứt nơi phân biệt

 Nên biên cùng vô biên

 Tất cả đều được dứt

 Nếu còn có thân kiến

 Thì nói các tế môn

 Chấp trước các tế ấy

 Là người không chỗ dựa

 Nếu không có thân kiến

 Chẳng chấp các tế môn

 Là bực đại trí huệ

 Có thể nơi các tế

 Đều vượt quá tất cả

 Do đây trong Phật pháp

 An lạc mà hướng đến

 Bồ Tát khéo quán sát

 Hay dùng sức trí tuệ

 Chẳng có được chút pháp

 Dứt được trừ diệt được

 Thường dùng phương tiện khéo

 Khéo nhiếp lấy chỉ quán

 Vì biết rõ một tướng

 Các tướng đều biết rõ

 An trụ ở chánh pháp

 Được ánh sáng đại pháp

 Do pháp quang minh nầy

 Quyết xong các tế kia

 Chẳng thấy có chút tế

 Là tế hay phi tế

 Chỗ tương ưng được kia

 Không chấp trước tất cả

 Nếu thấy chúng sanh khổ

 Khuyến dụ mà bảo rằng

 Ngươi đến nơi thừa nầy

 An vui mà xuất ly

 Thọ sanh ở chốn nào

 Hay làm ánh sáng pháp

 Mặc giáp ngồi Đại thừa

 Cũng đem đây khai thị

 Thừa nầy giáp trụ nầy

 Chớ có lòng lẫ tiếc

 Cũng khiến các chúng sanh

 Mặc giáp ngồi Đại thừa

 Ngồi thừa an lạc nầy

 Mà hướng đến vô thượng

 Chư Bồ Tát như vậy

 An trụ đây tu hành

 Hay ở trong Phật pháp

 Mau hướng đến vô thượng

 Thanh tịnh chư Phật quốc

 Nhiếp thọ chư Thanh Văn

 Và các chúng Bồ Tát

 Sự công đức trang nghiêm".

 

 Đức Phật phán tiếp:" Nầy Vô Biên Huệ! Ta nhớ thuở xưa lúc ta tu Bồ Tát hạnh, ta mặc giáp trụ như vậy và ngồi Đại thừa như vậy, vượt quá các tế, diệt được tối tăm, trừ được bố úy, ở nơi chỗ vô lượng trăm ngàn câu chi na do tha chư Phật, dùng sức đại tinh tiến nghe giáp trụ trang nghiêm và Đại thừa trang nghiêm nầy của đại Bồ Tát, ta vui mừng hớn hở. Lúc ta quan sát pháp ấy, đối với đức Phật Thế Tôn ta cung kính tôn trọng, chẳng nghĩ tưởng rằng ta mặc giáp trụ như vậy, ta có giáp trụ như vậy, ta được pháp như vậy, ta có pháp như vậy, ta có các loại pháp như vậy. Lúc ấy ta không có quan niệm có ngã, ta rời xa thân kiến, rời xa ngã mạn, lòng không có cao hạ, không có phân biệt. Vì muốn nhiếp thọ tất cả chúng sanh, hộ trì pháp tạng của chư Phật Như Lai, thành thực vô lượng trăm ngàn câu chi na do tha chúng sanh, ta không hề có một tâm niệm mỏi nhọc. Lúc ấy ta chẳng bỏ giáp trụ, ngồi vô biên thừa. Trong nhiều đời ta có thể phá quân ma. Các quyến thuộc ma đều thối bại tiêu diệt. Các sứ giả ma kinh sợ bỏ chạy. Tất cả hàng ngoại đạo và những phái tương ưng với dị đạo đều bị ta hàng phục, đặt họ vào chỗ an ổ. Tất cả dị luận ta đều dẹp trừ. Tất cả ngoại đạo đều hàng phục ta. Những chúng sanh xu hướng đường tà, ta làm cho họ ở nơi thừa nầy trồng các cội lành. Ta vì các chúng sanh mà khai thị giáp trụ và giáp trụ trang nghiêm. Ta cũng vì các chúng sanh mà diễn thuyết các loại pháp Đại thừa an lạc như vậy. An trụ trong thừa nầy thì được tất cả đồ dùng an vui, đó là đồ dùng an vui hữu vi: Chuyển Luân Vương, Đế Thích và Phạm Vương. Cũng được đồ dùng an vui vô vi.

 

 Lúc ta vì các chúng sanh nói pháp nầy, ta làm cho các chúng sanh vào trong pháp ấy phát sanh chủng tánh chư thánh, dựng tràng đại pháp, rống tiếng sư tử mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 

 Nầy vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát phải mặc đại giáp trụ như vậy rồi đúng như lý mà quan sát tuyển trạch.

 

 Đại Bồ Tát phải ở nơi pháp nào để hướng đến? Đối với tất cả pháp, đại Bồ Tát có thể thấy biết rõ hết không có phân biệt. Tại sao vậy?Chư đại Bồ Tát an trụ chánh đạo vì biết đúng lý vậy. Chư đại Bồ Tát hướng đến chánh đạo, vì thấy đúng lý vậy. Thanh tịnh đúng lý thì chẳng phân biệt chẳng phải chẳng phân biệt, mà ở trong phân biệt và chẳng phân biệt thấy biết bình đẳng. Nếu còn thấy có pháp cầu được tìm được thì chẳng bình đẳng, thì chẳng an trụ trong sự thấy biết thanh tịnh đúng lý. Do vì không phân biệt không chẳng phân biệt nên ở trong phân biệt chẳng phân biệt kia được chẳng chấp thủ. Do vì chẳng chấp thủ nên rời xa phân biệt và chẳng phân biệt.

 

 Ở trong đạo nầy không có thương xót, không có thi vi, không có tăng ích, cũng không thủ xả, đứng nơi đạo bình chánh, cũng chẳng phân biệt quá khứ hiện tại vị lai, có thể biết rõ khắp tập chủng của tất cả phân biệt, đối với tất cả pháp được an trụ bình đẳng, không có nghĩa điên đảo mới được gọi là an trụ ở đạo nầy vậy.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Những gì là đạo và đạo thanh tịnh?

 

 Đó là tám chi thánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm và chánh định.

 

 Chánh kiến dứt trừ được thân kiến, vượt quá cảnh sở hành của tất cả kiến chấp và tất cả các kiến chấp, đối với tất cả chỗ đều được thanh tịnh, mà biết rõ được tất cả phân biệt, hoặc là thắng phân biệt hoặc là khắp phân biệt thì là không phân biệt không thắng phân biệt không khắp phân biệt, chẳng an trụ tà tư, dứt tà tư duy. Thấy được chánh mạng, thấy được tưởng chánh mạng, thấy được mạng thanh tịnh, an trụ mạng thanh tịnh, đúng như lý thấy đơực thân nghiệp thanh tịnh, ngữ nghiệp thanh tịnh và ý nghiệp thanh tịnh an trụ nơi chánh nghiê(p.

 

 Chánh kiến ngữ nghiệp, đối với ngữ nghiệp đều có thể thấy biết, an trụ nơi chánh ngữ có thể đối trị thanh tịnh.

 

 Chánh kiến tinh tiến, khéo nhiếp tinh kiến, an trụ chánh tinh tiến.

 

 Chánh kiến ức niệm mà không có niệm cũng không có tác ý không chỗ chấp thủ, dùng niệm thanh tịnh an trụ nơi chánh niệm.

 

 Chánh kiến tam muội, ở trong tam muội không chỗ y chỉ mà có thể thanh tịnh tri kiến tam muội an trụ ở chánh định.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Lúc thấy như vậy, chư đại Bồ Tát được chánh kiến thanh tịnh đối với tất cả chỗ và an trụ nơi đạo thanh tịnh.

 

 Đạo thanh tịnh ấy là chỗ tu hành của thiện trượng phu, là chỗ mà trí giả tôn trọng, chúng Thánh hài lòng, chư Phật khen ngợi. Chẳng phải là chỗ đi của tất cả ma, ma dân, ma sứ, ma thiên. Cũng chẳng phải là chỗ đi cuả những hàng ngoại đạo, những người y chỉ tranh luận đang đi trong rừng rậm kiến chấp hướng đến phi đạo. Cũng chẳng phải chỗ đi của tất cả hàng ái trước Niết Bàn. Tại sao vậy?Vì người an trụ vô vi thì đối với Niết Bàn có chỗ phân biệt. Nếu phân biệt Niết Bàn thì phân biệt các hành pháp. Tại sao vậy? Vì ở trong Niết Bàn giới vượt quá tất cả động niệm phân biệt, còn không có vô vi huống là có hữu vi.

 

 Đạo nầy có thể sạch hết tất cả phân biệt, còn không có chút vô vi phân biệt há lại có tất cả hữu vi phân biệt. Nếu ở nơi Thánh đạo mà có phân biệt thì chẳng gọi là an trụ nơi Thánh đạo. Nếu dứt tất cả động niệm phân biệt thì gọi là an trụ Thánh đạo, là an trụ đạo vô úy, là an trụ đạo an ổn, là an trụ đạo an lạc.

 

 Đạo nầy có thể đến chỗ không gìa bịnh chết lo khổ. Đạo nầy có thể đến chỗ không có tự tánh vượt quá các tánh. Đạo nầy có thể đến chỗ rời xa tất cả tánh và phi tánh. Đạo nầy có thể đến chỗ không hiện bày tướng sắc và tướng phi sắc. Đạo nầy như hư không khắp tất cả chỗ có thể đến trong đại cung điện vô thượng. Đi như thế không còn lui trở lại thì được bao nhiêu là an ổn khoái lạc.

 

 Đại cung điện ấy chẵng hiện bày được, không có các sự tướng, không có chút hữuvi, không có chút vô vi, đã diệt hữu vi, đã bỏ vô vi, chẳng cho chúng sanh sự an trụ sự an lạc hữu vi, an lạc vô vi

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Những người ưa thích hữu vi Niết Bàn, họ còn chẳng cầu sự an lạc hữu vi huống là có thể cầu đại cung điện ấy.

 

 Trong đại cung điện ấy không có thi thiết, mát mẻ tịch tịnh nên gọi là Niết Bàn. Vì diệt tham, sân, si, dứt các tập chủng, phá lưới ái kiến, cạn dòng vô minh, nhổ những tên độc, hết pháp bất thiện nên gọi là Niết Bàn. Vì rời xa tất cả kiêu mạn tật bịnh khổ sở bức não nên gọi là Niết Bàn. Vì chẳng phải chỗ sở hành của tâm ý thức và tâm sở nên gọi là Niết Bàn. Vì dứt hết các tranh luận, các kiết sử nhẫn đến pháp tưởng nên gọi là Niết Bàn. Vì tuyệt các ý ưa thích, và chỗ sở cầu của ý ưa thích cũng không có phân biệt và tường bị phân biệt nên cũng gọi là Niết Bàn.

 

 Nầy Vô Biên Huệ! Đó là thể tánh của Đại Bát Niết Bàn.

 

Niết Bàn vô biên chẳng thể tuyên nói được. Nếu có chỗ hướng đến thì chẳng phải đạo nầy. Đạo cũng là không có ngôn thuyết, chẳng thể tuyên nói được.

 

Nếu lúc dùng đạo nầy hướng đến đại Niết Bàn đại cung điện, chư đại Bồ Tát cũng làm cho vô lượng bá thiên chúng sanh an trụ nơi đạo nầy.

 

Nầ Vô Biên Huệ! Lúc ở trong đạo nầy mà hướng đến, chư đại Bồ Tát không có mệt mỏi, cũng không có lo buồn, tùy nguyện mà cầu, tùy nguyện mà trang nghiêm, tùy chỗ trang nghiêm đều trang nghiêm cả, tùy chúng sanh được nhiếp độ mà thuyết pháp cho họ, khiến các chúng sanh đều được hoan hỉ.

 

Tại sao vậy? Vì đạo nầy không gì bằng, hay đói trị sạch, chỗ là đã rốt ráo. Chư Phật Thế Tôn cùng hàng Thanh Văn và Duyên Giác đều ở nơi đạo nầy mà hướng đến, chẳng hề trái với đạo nầy. Chưa đến địa kia, chưa đúng như sở nguyện thì trọn chẳng rời lìa đạo nầy.

 

Địa kia là gì?Là đại Niết Bàn địa, là đại cung điện địa.

 

Ví như hư không chẳng có gì để ví dụ ngoại trừ đem hư không để ví dụ hư không. Rộng lớn trống rỗng vắng lặng gọi là hư không.

 

Niết Bàn cung điện cũng như vậy, là rộng lớn rỗng không vắng lặng không có chủ tể cũng không có ngã sở. Tất cả chúng sanh dầu vào trong ấy không ai có thể nhiếp lấy chừng bằng đầu lông. Là rộng lớn không tịch, là rộng lớn vô lượng gọi là đại Niết Bàn, gọi là đại cung điê(n.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Đa§y là đạo thù thắng của chư đại Bồ Tát, chẳng phải hàng Thanh Văn, Duyên Giác có đưọc.

 

Lúc an trụ nơi đạo nầy, chư đại Bồ Tát hoặc làm Luân Vương không chút đoái tiếc, có oai đức lớn và thần thông biến hiện, biết rõ được thế gian và xuất thế gian.

 

Các Ngài hoặc làm Đế Thích hay Đại Phạm Thiên Vương không hề tham luyến, xa rời kiêu mạn, thìch thấy chư Phật, thích nghe chánh pháp, thành thục vô lượng trăm ngàn chư Thiên hướng đến Vô thượng Bồ Đề".

 

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

" Đạo Bồ Tát thù thắng

Trong đời không có trên

Chư Thánh và Nhị thừa

Đều hướng đến đạo nầy

Tất cả chư Bồ Tát

Hướng đến đại Bồ Đề

Vì được đạo trang nghiêm

Đem đạo nầy khai thị

Nếu ở trong đạo nầy

Đã đến hay đang đến

Họ đều dùng chánh kiến

An trụ ở đạo nầy

Tất cả chư Bồ Tát

Nếu dùng bình đẳng kiến

Ma đi trong đạo nầy

Thì an lạc hướng đến

Đạo nầy rất thù thắng

Đạo nầy là vô thường

Hay dạy bảo như thiệt

Trong ấy không chấp trước

Nếu trụ ở đạo nầy

Đi ở trong đạo nầy

Tất cả người có trí

Ý họ chẳng khuynh động

Chẳng nói nơi đạo nầy

Có chút ít khuynh động

Thường rời xa lay động

Ta nói nơi đạo nầy

Không động không thi vi

Cũng không có tăng ích

Nên đạo nầy vô thượng

Tất cả chư Bồ Tát

Khéo ở nơi đạo nầy

Đạo nầy không có yêu

Lại cũng không có ghét

Đạo chẳng phải quá khứ

Chẳng hiện tại vị lai

Chẳng phân biệt thời gian

Nên tu tập như vậy

Đạo nầy không phiền não

Đạo nầy không phân biệt

Chẳng trái với thiệt nghĩa

Nên an trụ như vậy

Trụ nơi đạo tối thắng

Không trụ là an trụ

Người an trụ đạo nầy

Hay được tánh thanh tịnh

Ta nói bát chi đạo

Chỗ đi của chư Thánh

Người an trụ đạo nầy

Bồ Đề chẳng khó được

Chỗ Bồ Tát dựa nhờ

An trụ đạo như vậy

Hay được đạo thanh tịnh

Mỗi mỗi mà hướng đến

Đạo nầy là tối thượng

Của thiện sĩ tu hành

Chỗ Như Lai khen ngợi

Trí nầy là vô thượng

Ma và chúng quân ma

Cùng quyến thuộc của ma

 Ngoại đạo chúng sanh khác

Chẳng phải chỗ họ đi

Người phân biệt Niết Bàn

Chẳng ở thắng đạo nầy

Ngu bị phân biệt hại

Chẳng biết được Niết Bàn

Người vượt quá phân biệt

Không tưởng không phân biệt

Ở trong đại đạo nầy

Do đây mà hướng đến

Thắng đạo của chư Thánh

Người ngu đều rời xa

Nếu người hành pháp nầy

Đạo nầy là vô thượng

Đại đạo thối thắng nầy

Hay đến chỗ vô thượng

Trong ấy không ưu não

Không sợ không tai nạn

Đạo đạo vô thượng nầy

Không sắc không hình tướng

Chẳng thể dùng sắc tướng

Mà có thể hiện bày

Đạo đạo an ổn nầy

Chánh trực vô sở úy

Do đạo nầy hướng đến

Đại Niết Bàn rốt ráo

Đại đạo thanh tịnh nầy

Dường như thái hư không

Tất cả không chướng ngại

Hướng đến đại Niết Bàn

Nếu đến được Niết Bàn

Đến rồi không còn lui

Đại Niết Bàn như đây

Tối thượng thắng an lạc

Niết Bàn đại cung điện

Không tịch chẳng lường được

Nên gọi đại Niết Bàn

Cũng gọi đại cung điện

Trong đại Niết Bàn nầy

Diệt tam độc phiền não

Nếu ai đến trong ấy

Không lui không thọ sanh

Niết Bàn đại không tịch

Dường như thái hư không

Vì rộng lớn không tịch

Trong đó kjhông chướng ngại

Niết Bàn đại cung điện

Liàa hẳn khổ ưu não

Chỗ cảnh giới vô biên

Gọi đó là Niết Bàn

Niết Bàn không số luợng

Số lượng chẳng thể được

Tánh trong mát tịch diệt

Gọi đó là Niết Bàn

Niết Bàn không thi thiết

Đạo về cũng vô thuợng

Vô lượng vô phân biệt

Phân biệt chẳng thể được

Ta vì chư Bồ Tát

Khai thị đại đạo nầy

Nếu ai ở đạo nầy

Thì gần đến Niết Bàn

Nếu an trụ đạo nầy

Thắng an lạc trong đời

Tất cả đều sẽ được

Gọi là bực vô úy

Khéo an trụ đạo nầy

Lòng họ không ô nhiễm

Do đạo nầy thanh tịnh

Gọi là bực vô úy

Vì thấy đạo bình chánh

Hay giác ngộ tất cả

Trong tất cả tư cụ

Chẳng tham trước tất cả

Chỗ Bồ Tát dựa nhờ

Đạo chơn thiệt thù thắng

Lợi ích các chúng sanh

Dũng mãnh mà hướng đến

Nếu được đạo vô thượng

Đạo trang nghiêm tối thượng

Khiến chúng đều hoan hỉ

Do đạo nầy hướng đến

Đạo nầy rất thù thắng

Hay khiến ý thanh tịnh

Tùy theo chỗ ưa cầu

Tất cả sẽ hướng đến

Nếu được ngôi Thánh Vương

Chuyễn luân oai đúc lớn

Hay bỏ ngôi vua lớn

Xuất gia đi học đạo

Nếu được ngôi Đế Thích

Ngôi Đại Phạm Thiên Vương

Không ham những ngôi ấy

Người nầy khéo thuận đạo

Các chỗ học th61 gian

Hay biết rõ tất cả

An trụ trong đạo nầy

Mới là người thiệt ngữ".

 

Đức Phật phán tiếp:" Nầy Vô Biên Huệ! Lúc ở trong đạo nầy mà hướng đến, đại Bồ Tát vì muốn nhiếp thủ bát chánh đạo nên tu hành một pháp, đó là chẳng làm các bất thiện. Lại tu hành hai pháp, một là nơi trong theo pháp lành tư duy đúng lý, hai là nơi ngoài theo pháp lành thỉnh hỏi đúng lý. Lại tu hành hai pháp, một là biết rõ các pháp đúng sự, hai là biết rõ không có sự, không có trụ, không có phân biệt. Laị tu hành hai pháp, một ở trong tùy thuận trí huệ, hai là ở ngoài không chỗ chấp trứơc. Laị tu hành hai pháp, một là tự tin không chỗ phân biệt, hai là nếu chúng sanh chưa có lòng tin thì tôi làm cho họ an trụ trong đạo nầy. Lại tu hành hai pháp, một là ở nơi việc đã làm có thể thấy biết như thiệt, hai là ở nơi việc được làm không cháp trước. Lại tu hành ba pháp, một là nơi khổ thủ uẩn biết rõ từng uẩn một, hai là nơi thủ uẩn không khổ thì siêng cầu và rất thích, ba là ở nơi các pháp hòa hiệp thì chuyên tu rời xa. Lại tu hành ba pháp, một là tuyên nói pháp tối thượng, lời chẳng sai trái, tùy nói pháp nghĩa lòng không có niệm tranh luận, hai là chẳng chấp trước tất cả văn tự, ba là nhiếp lấy tất cả các pháp. Lại tu hành bốn pháp, một là dùng chánh phương tiện ở nơi nghĩa, hai là dùng chánh phương tiện tùy theo nghĩa mà làm tương ưng, ba là dùng chánh phương tiện thuận theo pháp để quan sát, bốn là dùng chánh phương tiện chẳng khởi tất cả chấp trước. Lại tu hành bốn pháp, một là có thể dùng thệ nguyện kiên cố để tự giữ gìn tu hành đúng như lời, hai là có thể dùng sáu căn khôn khéo hướng đến nơi đạo, ba là có thể làm cho ý lạc thanh tịnh, bốn là có thể an trụ hạnh chẳng phóng dật. Vì nhiếp thủ bát chánh đạo mà chư đại Bồ Tát tu hành những pháp như vậy.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát dùng pháp hành nầy để nhiếp thủ chánh đạo mới được gọi là người tùy thuận đạo, vì quán tất cả pháp tánh rỗng không, vì không tên, vì không tướng, vì không nguyện, vì không sanh, vì không tác, vì nàm chán, vì rời lià, vì tịch diệt, vì xuất ly. Lúc được ánh sáng pháp quán sát sanh được đứt hết thì chẳng ở nơi vô sanh mà khởi cảm tưởng sanh, liền ở lúc ấy siêu thăng ly sanh ra khỏi phi pháp mà được đạo thanh tịnh và vô sanh nhẫn. Vì đạo thanh tịnh nên vượt quá tất cả tưởng niệm, chẳng còn có phi tưởng, diệt đạo tưởng, rời pháp tưởng, ra khỏi lưới vô minh, dùng minh để tu tập. Những pháp đáng được đều có thể được cả.

 

Dùng minh để tu tập thì được những pháp gì?Dùng minh tu tập thì được thọ tưởng diệt, được tất cả pháp quyết định thiện xảo, được tùy bí mật thuận với pháp tánh.

 

Lúc hành đạo nầy, chư đại Bồ Tát chẳng trụ ở xứ, chẳng bị tướng làm hại, biết tất cả pháp đồng với hư không, sanh như hư không sanh, tánh như tánh hư không, không có chút tướng làm chướng ngại.

 

Đạo nầy thanh tịnh chẳng sợ tai hoạ.

Mặc đại giáp trụ chẳng bị bắt trói.

Ngồi nơi Đại thừa không chỗ mê lầm.

Rời các chướng nạn dường như hư không.

 

Ở trong đạo nầy, đại Bồ Tát hướng đến Vô thượng Bồ Đề, vì các chúng sanh mà làm ánh sáng lớn.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Đây là đạo thù thắng của đại Bồ Tát, chẳng phải chỗ sở hành của hàng Thanh Văn và Duyên Giác".

 

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

"Vì nhiếp bát chánh đạo

Diễn nói các pháp hành

Nếu trụ trong đạo nầy

Đây là đại tinh tiến

Người tu hành pháp lành

Được tất cả thời gian

Chẳng làm pháp bất thiện

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người tu tập

Trong thì suy đúng lý

Ngoài thì cầu thỉnh hỏi

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người quan sát

Như sự chánh liễu tri

Như lý trụ đúng pháp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người dựa nhờ

Ở trong thì biết rõ

Ở ngoài thì chẳng chấp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người vô úy

Tự tin không phân biệt

Khiến người phát lòng tin

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người tư duy

Sạch các nghiệp đã làm

Với nghiệp không chỗ chấp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người không trói

Thường biết khổ thủ uẩn

Cầu thủ uẩn không khổ

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người thiện trí

Tu hạnh rời hòa hiệp

Rời được các hòa hiệp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người tư nghị

Tùy nghĩa hay biết rõ

Diễn thuyết không trái cãi

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người đủ huệ

Chẳng chấp ở văn tự

Nhiếp trì tất cả pháp

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người hành pháp

Hay tương ưng với pháp

Cũng tương ưng với nghĩa

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người thuận đạo

Thị kiên cố giữ vững

Tu hành đúng như lời

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát đạo thanh tịnh

Khéo sạch các ý lạc

Trụ pháp chẳng phóng dật

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát tất cả thời

Siêng tu các hạnh ấy

Thân tâm được an lạc

Hạnh ấy nhiếp nơi đạo

Bồ Tát người chánh niệm

Trụ ở đạo thanh tịnh

Biết rõ tất cả pháp

Rỗng không chẳng có tướng

Bồ Tát người quan sát

Hay khiến nguyện thanh tịnh

Cũng chẳng trụ vô nguyện

Rời xa tất cả tướng

Bồ Tát quán đúng lý

Lý thú đều bình đẳng

Với các pháp vô sanh

Không có chút nghi hoặc

Bồ Tát người diệu trí

Hay quán sát các pháp

Nhàm lìa và tịch diệt

Thấy rõ mà hướng đến

Bồ Tát người quan sát

Như lý thấy pháp sanh

Chẳng ở sanh thấy sanh

Chẳng ở diệt thấy diệt

Bồ Tát người tinh tiến

Lúc quán sát như vậy

Do rời nơi phi pháp

Siêu thăng trong chánh vị

Bồ Tát người diệu trí

Đạo nầy là thanh tịnh

Mau đến an ổn lớn

Thành tựu nhẫn vô thượng

Bồ Tát người diệu trí

Tùy thuận quán các pháp

Vượt quá tất cả tưởng

Thường trụ ở vô tưởng

Bồ Tát người diệu trí

Đạo nầy hay trị sạch

Rời xa cảm tưởng đạo

Cũng chẵng trụ pháp tưởng

Bồ Tát người diệu trí

Vì đạo này trị sạch

Ra khỏi lưới vô minh

Mà được ánh sáng pháp

Bồ tát người diệu trí

Hay tu tập nơi minh

Truyền dạy các chúng sanh

Do đây mà hướng đến

Bồ Tát người tu minh

Vì được tất cả pháp

Quyết định nghĩa thậm thâm

Đại phương tiện thiện xảo

Bồ Tát người tu minh

Phương tiện rời các tưởng

Tùy thuận pháp bí mật

Hay biết nghĩa quyết định

Bồ Tát người diệu trí

Dùng ánh sáng pháp lớn

Diệt được các thọ tưởng

Do đây mà hướng đến

Bồ Tát người diệu trí

Chẳng trụ ở đạo ấy

Vì chẳng trụ đạo ấy

Nơi đạo mà hướng đến

Bồ Tát người vô úy

Hay biết tất cả pháp

Dường như tịnh hư không

Không bị tướng chi phối

Bồ Tát biết các pháp

Tánh nó đồng hư không

Vì các pháp như không

Thanh tịnh mà không nhơ

Bồ Tát trụ như vậy

Chẳng bị tướng làm ngại

Mau vì các chúng sanh

Diễn thuyết để truyền dạy

Bồ Tát người diệu trí

Tất cả đạo thanh tịnh

Nơi đạo không tai hoạn

Vô ngại mà hướng đến

Đạo thanh tịnh như vậy

Chóng đến đại Bồ Đề

Có thể chứng vô vi

Bình đẳng mà hướng đến

Bồ Tát đại giáp trụ

Đại thừa vì đại đạo

Như hư không vô ngại

Thanh tịnh mà hướng đến

Đến thừa nầy đạo nầy

Như đến thái hư không

Rời xa tất cả tướng

Vô tướng mà hướng đến

Đại thừa bình đẳng thừa

Rộng lớn dường hư không

Nơi đạo thanh tịnh này

Thừa ấy sẽ hướng đến

Tất cả các Bồ Tát

Tôn trọng nơi pháp nầy

Vì tất cả chúng sanh

Dũng mãnh mà hướng đến

Nếu đến đại Bồ Đề

Trụ đạo thù thắng nầy

Chẳng phải hàng Nhị thừa

Ở đây hướng đến được

Bồ Tát chánh ức niệm

Hay khiến đạo thanh tịnh

Dùng đạo thanh tịnh nầy

Mà hướng đến vô thượng".

 

Đức Phật phán tiếp:"Nầy Vô Biên Huệ! Lúc hướng đến như vậy, chư đại Bồ Tát hay dùng phương tiện khéo để chánh liễu tri vô lượng niệm xứ, chánh cần, căn, lực, giác chi giải thoát, đẳng trì đẳng chí, thần túc chỉ quán, vô lượng công đức thù thắng trang nghiêm.

 

Vì muốn hàng phục các thế gian nên đại Bồ Tát mặc giáp trụ. Vì siêu xuất tam giới nên đại Bồ Tát ngồi nơi Đại thừa. Vì nhiếp thọ Trời, Người, A Tu La nên đại Bồ Tát an trụ đạo ấy mà hướng đến Vô thượng Bồ Đề.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ, ngồi nơi Đại thừa, an trụ nơi đạo ấy nếu chẳng dùng từ bi hỉ xả soi khắp chúng sanh, chẳng yêu chúng sanh như mình, thì giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy cả đại địa chẳng kham chịu được, tất cả chúng sanh thân cận được.

 

Nếu đại Bồ Tát dùng từ bi lợi ích chúng sanh mà mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa an trụ đạo ấy, thì giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy, tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La chẳng thể làm được. Tất cả hàng ngu phu tham luyến thế gian ở mãi thế gian cũng chẳng thấy được.

 

Vì thương xót tất cả chúng sanh mà chư đại Bồ Tát mặc đại giáp trụ, có thể dùng giáp trụ gia trì địa giới và thủy hỏa phong giới, làm cho địa giới nầy chẳng nghiêm úp, tất cả chúng sanh khỏi kinh sợ, lại có thể làm cho thủy giới hỏa giới và phong giới tùy theo chỗ thích ứng mà phát khời hiệu năng.

 

Chư đại Bồ Tát từ lúc sơ tâm hướng đến giáp trụ tới nay mặc đại giáp trụ ấy ngồi Đại thừa ấy dùng đạo thanh tịnh mà hướng đến nhứt sanh bổ xứ.

 

Lúc đại Bồ Tát đến cội Bồ Đề ngồi đạo tràng, trong cõi Đại Thiên nầy, chỗ đạo tràng kiên cố do kim cương làm thành, nếu chẳng gia trì thì tất sẽ rúng động nghiêng úp. Dầu là làm thành bằng kim cương kiên cố nhưng không kham chịu đựng được đại giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy.

 

Thuở xưa, vì chư đại Bồ Tát thệ nguyện khởi tâm từ bi đối với chúng sanh, vì mười phương chư Phật chư đại Bồ Tát đồng khen ngợi, nên dầu là núi Kim Cương, núi Tu Di, các bửu sơn cùng các núi lớn nhất, nếu chẳng gia trì, thì đều cũng chẳng kham chịu đựng được đại giáp trụ Đại thừa đại đạo ấy.

 

Lại vì bổn nguyện lực của chư đại Bồ Tát, bổn nguyện lực của chư Phật, đối với tất cả chúng sanh chẳng làm não, chẳng làm hại, chẳng làm tổn, chẳng làm oán, chẳng làm thù, chẳng lấn hiếp, chẳng bức ngặt, vì muốn cho chúng sanh được an lạc, nên mặc đại giáo trụ ngồi Đại thưà an trụ trong đạo ấy mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Lúc mặc giáp trụ, chư đại Bồ Tát mặc giáp trụ trí huệ, cầm dao gậy trí huệ, hồi hướng đại trí huệ, ngồi hồi hướng thừa, hướng ánh sáng trí huệ, an trụ đạo quang minh, dùng con mắt trí huệ sáng suốt quan sát các pháp mà hướng đến nhứt thiết chủng trí. Vì muốn nhiếp thủ nhứt thiết chủng trí, vì tất cả chúng sanh mà tu hành Bát Nhã Ba la mật, Bố thí Ba la mật, Trì giới Ba la mật, Nhẫn nhục Ba la mật, Tinh tiến Ba la mật và Thiền Ba la mật.

 

Tất cả đều dùng huệ làm tiên đạo, dùng huệ làm tu tập, dùng huệ làm nhiếp trì, mà hồi hướng Vô thượng Bồ đề".

 

Ngài Vô Biên Huệ bạch rằng: " Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát có bao nhiêu là trí huệ đều có thể nhiếp trì khắp tất cả chỗ thành tựu vô lượng chư Phật pháp".

 

Đức Phật phán:" Đúng như vậy. Nầy Vô Biên Huệ! Đúng như lời ông vừa nói. Chư đại Bồ Tát có bao nhiêu là trí huệ khắp tất cả chỗ nhiếp tất cả pháp, mặc đại giáp trụ ngồi Đại thừa an trụ đại đạo ấy, mỗi mỗi đều dùng huệ làm tiên đạo mà hướng đến.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Dầu có trí huẽ mà không dùng huệ làm tiên đạo thì ở trong đạo ấy chẳng thể hướng đến được. Nếu có trí huệ dùng huệ làm tiên đạo, khắp tất cả chỗ tùy đi tùy làm, dùng huệ để nhiếp trì, dùng huệ để phòng ngự, mới được gọi là mặc đại giáp trụ ngồi ở Đại thừa an trụ đại đạo ấy, dùng pháp an ổn làm lợi ích cho thế gian, có thể khai huệ nhãn, dùng huệ nhãn quan sát, huệ thân chiếu sáng phóng ánh sáng lớn mà hướng đến Vô thượng Bồ Đề.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Đó là chư đại Bồ Tát mặc giáp trụ thì giáp trụ trang nghiêm, ngồi Đại thừa thì Đại thừa trang nghiêm, thật hành đại đạo thì đại đạo trang nghiêm mà hướng đến Vô thượng Bồ đề.

 

Nầy Vô Biên Huệ! Chư đại Bồ Tát giáp trụ trang nghiêm, Đại thừa trang nghiêm và đại đạo trang nghiêm, tất cả công đức nhiều thứ trang nghiêm, nếu ta nói cho đủ, dầu đến vô lượng kiếp cũng nói không hết được.

 

Nay vì làm cho các ông được biết rõ, cũng vì chư Bồ Tát vị lai, giáp trụ trang nghiêm, Đại thừa trang nghiêm, đại đạo trang nghiêm, vô lượng công đức tư lương trang nghiêm, mà ta lược nói một phần ít.

 

Chư Bồ Tát ấy nếu nghe pháp của ta cũng nên mặc đại giáp trụ, ngời ở Đại thừa, an trụ đại đạo ấy, dùng công đức trang nghiêm mà hướng đến Vô thượng Bồ đề".

 

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

"Ta nói tứ chánh cần

Cũng nói tứ niệm trụ

Tất cả thiện phương tiện

Do nơi chẳng phóng dật

Đầy đủ chánh ức niệm

Khéo tương ưng với pháp

Dũng tiến để xuất ly

Do nơi chẳng phóng dật

Căn, lực, Bồ đề phần

Mặc giáp ngồi Đại thừa

Dùng đây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Thiền định chánh giải thóat

Đẳng trì và đẳng chí

Dùng dây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Đại từ bi hỉ xả

Mặc giáp ngồi Đại thừa

Dùng dây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Thành tựu các chỉ quán

Thần túc và thần biến

Dùng dây làm thị vệ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Vô lượng các công đức

Mặc giáp ngồi Đại thừa

Nơi đạo không mỏi nhọc

Bồ Tát sẽ hướng đến

Tinh tiến chẳng phóng dật

Mặc giáp ngòi Đại thừa

Biết rõ các niệm xứ

Bồ Tát sẽ hướng đến

Ánh sáng đại giáp trụ

Hàng phục các thế gian

Mặc giáp trụ nầy rồi

Mới gọi là trí giả

Hướng đến nhứt thiết trí

Ra khỏi hẳn tam giới

Ngồi Đại thừa nầy rồi

Mới gọi là trí giả

Đại đạo thanh tịnh đạo

Chói che các thế gian

Trời, Người, A Tu La

Mới gọi là rtí giả

Chư Bồ Tát như vậy

Khắp vì các chúng sanh

Trong tất cả thời gian

Tinh tiến mặc giáp trụ

Bồ Tát chẳng tu tập

Đại từ và đại bi

Đại hỉ và đại xả

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng to tập

Sự lợi ích đúng lúc

Cho các chúng sanh kia

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng tu tập

Thương yêu các chúng sanh

Như thương yêu chính mình

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng tu tập

Từ bi ngồi Đại thừa

Các núi và biển cả

Đại địa chẳng chịu nổi

Bồ Tát chẳng tu tập

Từ bi với chúng sanh

Ngồi nơi Đại thừa này

Chúng sanh chẳng thân cận

Nếu mặc giáp trụ nầy

Từ quang chẳng chiếu sáng

Với đại giáp trụ ấy

Chúng sanh chẳng thân cận

Nếu mặc giáp trụ nầy

Biển công đức vô biên

Gia trì bốn đại chủng




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog