Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 61



PHÁP HỘI BỒ TÁT KIẾN THIỆT

THỨ MƯỜI SÁU

 


PHẨM LONG VƯƠNG THỌ KÝ

 

 Bấy giờ Long Vương Nan Đà và Bạt Nan Đà v.v...chín ức chư Long thấy các Long Nữ cúng dưòng Phật và được thọ ký rồi, họ sanh tâm hi hữu, tâm chưa từng có mà nghĩ rằng : Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri thiệt là hi hữu chưa từng có, đức Như Lai biết các chúng sanh căn cơ thâm tín, đức Như Lai không có chút phần nào là chẳng thấy chẳng nghe chẳng chứng. Chánh pháp của Như lai do Phật khéo tuyên nói hay khiến đại chúng nghe rồi hiện biết, không có thời tiết, tùy cơ trao pháp quyết định làm cho đắc quả, khiến các người trí hiện được chứng biết. Cho đến hàng nữ nhơn động chuyển khinh tháo trí huệ cạn kém mà còn hiểu được thâm pháp của Phật nói, huống là những người trí khéo an trụ trong pháp Phật làm chúng đệ tử. Hàng nữ nhơn ấy dục tâm tăng thượng , sân tâm tăng thượng, si tâm tăng thượng còn có thể biết được chỗ tuyên nói của Như Lai. Vì suy nghĩ như vạ-y nên đối với đức Phật, chư Long Vương Nan Đà, Bạt Nan Đà v.v...sanh tâm hi hữu chưa từng có. Vì cúng dường Phật nên chư Long nổi mây trùm khắp tất cả thế gian mưa nước thơm làm thành bùn thơm, hơi thơm ấy đầy khắp tam thiên Đại Thiên thế giới. Chúng sanh nghe hơi thơm ấy đều đuợc chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề. Nơi thành Ca Tỳ La ngang rộng sáu mươi do tuần mưa xích chơn châu khắp mọi nơi , lại có các thứ báu vô giá trùm khắp giáp vòng vườn Ni Câu Đà. Lại lấy long hoa hóa thành nhà đẹp rộng sáu mươi do tuần, toàn nhà đều bằng thất bửu. Lại có vô lượng nhạc khí đồng tấu cúng dường. Nhà thất bửu long hoa ấy hóa làm chín ức hoa tràng nhiều màu treo khắp nhà, lưới tỳ lưu ly trùm trên cột báu, bửu châu vô giá trải đầy mặt tiền, bửu châu ấy rất nhu nhuyến như bà lá thạch ở trời Đao Lợi, đá ấy màu như tỳ lưu ly, chạm đến mềm nhuyển như thiên y vi diệu khả ái. Trong các thứ ma ni bửu ấy, hoặc có thứ phát xuất tia sáng mát lạnh, hoặc phát xuất nước xanh, nước vàng, nước đỏ; nước trắng, hoặc phát xuất nước nhiều màu, hoặc phát xuất gió mát mẻ, hoặc có bửu châu tùy ý chúng sanh mà phát xuất những đồ cần dùng, hoặc có bửu châu phát xuất dầu trơn, hoặc có bửu châu có thể làm gương sáng hiện bóng tất cả đại chúng. Tất cả nhân dân từ thành Ca Tỳ La ra đều hiện rõ bóng trong ấy. Tất cả đại chúng đều thấy Phật và Thanh Văn hiện các thứ thần thông biến hóa. Do thần lực của báu ma ni ấy, trong thềm nhà phát xuất những lọng báu nhiều màu, những tràng báu nhiều màu, những phan báu nhiều màu, những vòng hoa nhiều màu, những vòng hương, những vòng báu, những vòng chơn châu, những lưới linh báu, lại phát xuất những ngựa quý nhiều màu. Long Vương Nan Đà và chín ức chư Long xua các ngựa quí đi bộ theo nhiễu quanh bên hữuPhật ba vòng rồi dùng báu nhu nhuyến rải nơi Thế Tôn. Các thứ báu từ dưới nền nhà đẹp ấy phát xuất đều bay lên hư không che đức Phật và chúng Thanh Văn. Các nhạc khí tại hư không tự nhiên phát xuất âm thanh vi diệu cúng dường đức Phật.

 

 Chín ức chư Long nhiễu Phật xong, Ở trước Phật chấp tay yên lặng niệm Phật công đức chiêm ngưỡng Như Lai mắt chẳng tạm rời, thích Phật công đức thêm tâm an trụ Vô thượng Bồ đề. Chư Long yên lặng niệm Phật công đức giây lát rồi cùng đảnh lễ chưn Phật đồng thanh nói kệ tán thán rằng :

 

 “Lâu tu oai nghi tướng trăm phước

 Bi tâm ly cấu hạnh đầy đủ

 Dứt bỏ vô tận đất báu quý

 Thế Tôn rời khỏi thành Ca Tỳ

 Trong sáu năm dài tu khổ hạnh

 Như Lai chẳng được đạo cam lộ

 Ý Thế Tôn còn chẳng chán buồn

 Bởi Ngài đã lâu tu trí huệ

 Như Lai thiệt là thầy Trời Người

 Vì thế gian mà tu khổ hạnh

 Thế gian nghe rồi còn chẳng kham

 Huống là có thể lấy mắt ngó

 Thế Tôn quá khứ bỏ đầu mắt

 

 Như thánh chứa hộp tâm Bồ đề

 Nghe tin ấy chúng tôi chẳng vui

 Vì nghĩ đến Phật quá khổ hạnh

 Như Phật xưa làm tiên nhẫn nhục

 Bị vua Ca Lợi chặt tay chân

 Thẻo tai lắc mũi chẳng oán giận

 Chúng tôi nghe tin chẳng nhẫn được

 Như Phật đem thân lên bàn cân

 Vì chim nương cứu chẳng nở bỏ

 Chúng tôi nghe tin cũng chẳng vui

 Như Lai quá khứ quá cần khổ

 Tại sao lòng chúng tôi chẳng vui

 Vì Thế Tôn chịu quá khổ sở

 Kẻ ác hại đến đức Như Lai

 Họ đọa ác đạo Phật lại thương

 Đầy đủ thánh huệ đại Đạo Sư

 Sao hành được tâm bất hại ấy

 Tu tập đạo hạnh không sai sót

 Ngưỡng mong Phật nói hạnh an lạc

 Nay chư Long nầy đã phát tâm

 Cầu nơi Như Lai Bồ đề hạnh

 Như Phật tuyên dạy đều làm được

 Ngưỡng mong Phật nói đạo Bồ đề

 Chúng chư Long nầy rất khác ngưỡng

 Chỉ cầu chỗ bất tử bất sanh

 Nguyện nói Như Lai hạnh an ổn

 Khiến các chúng sanh dễ giáo hóa” .

 

 Đức Phật thấy các Long chúng cúng dường và phát nguyện. Biết họ đã thâm tín rồi, Phật liền hiện mỉm cười. Chư Phật pháp nhỉ nếu hiện tướng mỉm cười thì từ diện môn phóng vô lượng tia sáng màu chiếu đến Phạm Thiên rồi trở về nhập vào đảnh Phật.

 

 Huệ Mạng Mã Thắng Tỳ Kheo nói kệ bạch hỏi rằng :

 

 “ Lành thay Sa Môn Đại Mâu Ni

 Chẳng phải không cớ hiện mỉm cười

 Thế Tôn từ bi xin nói rõ

 Vô thượng Chánh Giác cớ sao cười

 Đại chúng chiêm ngưỡng cầu được nghe

 Thế Tôn vô lượng công đức hạnh

 Thấy cười sanh nghi lòng chẳng vui

 Ngưỡng mong Pháp Vương dứt nghi cho

 Ai nay ở trong pháp Thích Ca

 Sanh lòng kính tin và mừng rỡ

 Ai khiến ngày nay ma Ba Tuần

 Tâm ý mê loạn và lo rầu

 Ai ngày hôm nay hay cung phụng

 Cha lành công đức đại Đạo Sư

 Ai dâng cúng dường thắng đệ nhứt

 Mong đức Như Lai Vô thượng nói

 Toàn đại chúng đây đồng chấp tay

 Thảy đều đối Phật chiêm ngưỡng đứng

 Ngưỡng mong Đạo Sư trừ lưới nghi

 Vì chúng mà nói duyên cớ cười

 Đại chúng nghe rồi lòng mừng rỡ

 Biết được chánh pháp Thế Tôn dạy

 Đại trí Thế Tôn khiến chúng mừng

 Tùy thuận chánh giáo khéo an trụ ”.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ đáp Huệ Mạng Mã Thắng rằng :

 

 “Trí huệ rộng sâu đại Đạo Sư

 Lúc nói phạm âm đủ tám đức

 Tâm Phật thanh tịnh rời uế trược

 Lắng nghe Phật nói nhơn duyên cười

 Các Long Vương nầy lòng kính tin

 Cúng dường nơi Phật hơn tất cả

 Chúng ấy vì cầu Phật Bồ đề

 Để lợi ích tất cả thế gian

 Lòng bi tăng thượng quán thế gian

 Không có Đạo Sư vui sao được

 Tôi làm sao được đại Bồ đề

 Thành thục chúng sanh chẳng mỏi nhọc

 Rất ưa tịch tịnh đủ trí huệ

 Tu thừa an lạc tâm thanh tịnh

 Nơi không vô tướng và vô nguyện

 Từ vô lượng kiếp đã tu lâu

 Tâm Phật bình đẳng quán thế gian

 Như Phật đã được tướng trí huệ

 Tâm từ bi hỉ đều bình đẳng

 Vì khiến thế gian an ổn vậy

 Tâm bi đệ nhứt lòng thương xót

 Sẽ được làm Phật vừa ý mình

 Chúng ấy quán sát chúng sanh rồi

 Sẽ thành Đạo Sư hiệu Vô Oán

 Lúc các chúng ấy được cam lộ

 Không có ma oán cũng không dư

 Hằng thường diễn nói pháp vô ngã

 Một bề không có thế tục thuyết

 Chư Như Lai ấy đủ đại bi

 Khiến các chúng sanh nhập trí Phật

 Lúc Chư Như Lai ấy thuyết pháp

 Tất cả chúng sanh đều tín hiểu

 Lúc chúng ấy đời đời tu hành

 Thành thục chúng sanh chẳng khó lắm

 Chúng sanh thành thục nghe pháp rồi

 Sẽ được giải thoát chứng cam lộ

 Những người nghe pháp đều giải thoát

 Các chúng sanh ấy đều đoan nghiêm

 Tất cả chúng sanh đều biết hiểu

 Chánh pháp của chư Phật ấy nói

 Tất cả quỉ thần và súc sanh

 Không ai chẳng hiểu lời Phật ấy

 Tất cả đều được niệm pháp rồi

 Hiểu được Như Lai pháp cam lộ

 Không có chúng sanh nghe Phật dạy

 Mà họ chẳng sanh lòng yêu thích

 Yêu thích chánh pháp Phật nói rồi

 Tất cả thảy đều được cam lộ

 Thuở ấy những người được giáo hóa

 Sẽ được giải thoát bịnh sanh tử

 Và giải thoát khổ chết buồn lo

 Nghe Phật nói rồi lòng không nhơ

 Như vậy Thích Ca Mâu Ni Phật

 Nói ý chư Long đáp Phật tử

 Như tâm kiên quyết của chư Long

 Vì được Bồ đề Vô thượng vậy

 Như Lai thọ ký cho chư Long

 Đại chúng nghe rồi đều vui mừng

 Đại chúng mừng rồi quy y Phật

 Tất cả thảy đều tâm tịch tĩnh ”




 

PHẨM CƯU BÀN TRÀ THỌ KÝ

 

 Bấy giờ lại có một ức tám ngàn vạn Cưu Bàn Trà thấy chư A Tu La, Ca Lâu La, Long Nữ và Long Vương cúng dường Phật được thọ ký

 

 họ rất vừa lòng hớn hở vui mừng sanh lòng hi hữu chưa từng có, nghĩ rằng đức Như Lai Thế Tôn công đức trí tuệ vi diệu thù thắng được sự cúng dường hi hữu như vậy mà chẳng mừng chẳng kỳ lạ, vì trí tuệ của Phật là tối tôn thắng trong các trí huệ vậy. Ví như đại hải chẳng tăng chẳng giảm. Tại sao ? Vì sâu rộng vậy. Đức Thế Tôn được cúng dường thù thắng mà tâm Phật chẳng tăng giảm. Tại sao ? Vì đối với tất cả pháp không chỗ nghi vậy.

 

 Lúc ấy một ức tám ngàn vạn Cưu Bàn Trà vì cúng dường nên hóa hiện một ức tám ngàn vạn lọng thất bửu treo những vòng thất bửu

 

 Lại hóa một ức tám ngàn vạn xe thất bửu, trên xe lại hóa một ức tám ngàn vạn lọng báu, những xe ấy liền nhau, lọng báu đều treo những tụi báu, có màn lưới xích chơn châu trùm lên trên. Lại hóa những âm nhạc Cưu Bàn Trà hòa tấu cúng dường Phật. Lại hóa một ức tám ngàn vạn ngựa nhiều màu báu rất điều phục để kéo xe ấy. Chư Cưu Bàn Trà đều ngồi xe thất bửu nhiễu bên hữu Phật ba vòng, dùng hoa thất bửu rải trên Phật rồi xuống xe đến lê’ chưn Phật nhiễu Phật ba vòng chấp tay đứng một phía nói kệ tán thán rằng :

 

 “ Chẳng tăng chẳng gjảm Đại Mâu Ni

 Dường như Tu Di các núi chúa

 Thọ sự cúng dường vô thượng nầy

 Vì Như Lai được vô úy vậy

 Quan sát chúng sanh chỉ có danh

 Và chỉ có dụng chẳng nắm lấy

 Đạo Sư do tu hạnh tịch diệt

 Do đó người trí không cống cao

 Thế Tôn biềt đời dường ảo mộng

 Trong ảo trong mộng thọ dục lạc

 Lại giống thủy nguyệt và dương diệm

 Quán sát như vậy không còn thừa

 Ví như càn thành không có thiệt

 Khắp mười phương cầu chẳng thể được

 Thành ấy không thiệt chỉ có danh

 Phật thấy thế pháp đều như vậy

 Tất cả Trời Người cúng dường Phật

 Xe báu lọng báu và âm nhạc

 Tràng hoa tua tụi cùng chấp tay

 Thế Tôn xem biết như ảnh hưởng

 Chúng tôi trần thiết như cúng dường rồi

 Nguyện tôi đương lai sẽ làm Phật

 Cũng nguyện tôi biết đời như mộng

 Biết rồi thuyết pháp như Thế Tôn

 Chúng tôi thấy những người khổ não

 Bị sanh già ịnh chết bứt ngăt

 Nguyện biết Phật Bồ đề Vô thượng

 

 Nói cho kẻ nghe được giải thoát

 Ở chỗ các chúng sanh vô trí

 Nguyện được Bồ đề để thuyết pháp

 Diễn thuyết không có pháp cấu trược

 Trong chúng không đạo làm Đạo Sư ”.

 

 Đức Thế Tôn biết chư Cưu Bàn Trà sanh lòng tín sâu nên hiện tướng mỉm cười.

 

 Huệ Mạng Mã Thắng Tỳ Kheo nói kệ bạch hỏi rằng :

 

 “ Phật chẳng không cớ hiện mỉm cười

 Chẳng cho tất cả là hi hữu

 Phật chẳng hi hữu mà mỉm cười

 Nay tôi nguyện nghe nhơn duyên ấy

 Tất cả Trời Người đều có nghi

 Thấy nơi miệng Phật hiện mỉm cười

 Ngưỡng mong dứt trừ các lưới nghi

 Diễn nói sự mỉm cười của Phật

 Ai nói chánh pháp được tín sâu

 Ai hay như pháp thấy từ phụ

 Ai được Phật khen dâng cúng dường

 Tôi nguyện được nghe Thế Tôn nói

 Ngày nay đối với hành hữu vi

 Ai thấy lỗi nó mà vứt bỏ

 Ngày nay ai an trụ thiệt tế

 Tâm họ thanh tịnh tôi nguyện nghe

 Ai hàng phục ma và quyến thuộc

 Ai khiến được Phật tâm vui vẻ

 Ai hay được đáy hữu vi sâu

 Tôi muốn được nghe để dứt nghi

 Tất cả đại chúng đứng chắp tay

 Cầu nghe nhơn duyên Phật mỉm cười

 Nguyện dứt tất cả chúng sanh nghi

 Đấng thế Tôn tuyên thọ ký họ ”.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ đáp Huệ Mạng Mã Thắng rằng :

 

 “ Lành thay Mã Thắng hỏi nghĩa ấy

 Đem lợi ích lớn cho thế gian

 Vì ông hỏi nhơn duyên mỉm cười

 Mã Thắng lắng nghe nay Phật nói

 Chúng Cưu Bàn Trà cúng dường Phật

 Nơi pháp tịch diệt tâm an trụ

 Chúng ấy thấy Phật chẳng kinh quái

 Sanh lòng hi hữu mà nguyện cầu

 Chúng ấy hôm nay cúng dường Phật

 Tâm họ chọn lấy pháp tịch diệt

 Do lòng tin sâu khởi đại bi

 Nơi người lạc đường làm Đạo Sư

 Vì thương chúng sanh nên cúng Phật

 Vì kẻ lạc đường khởi lòng

 Chúng hiền trí ấy làm vậy rồi

 Được bỏ thân quỉ sanh Đao Lợi

 Thiên Vương thường dùng lòng từ bi

 Tại trời luôn luôn dạy dỗ họ

 Họ có các pháp được không nghi

 Được làm thân quyến Thiên Đế Thích

 Họ có vô lượng hằng sa kiếp

 Mỗi mỗi quốc độ làm Phật hạnh

 Mặc giáp hằng thệ rất kiên cố

 Cúng dường đấng Pháp Vương tự tại

 Họ có vô lượng các quốc độ

 Lòng không mỏi nhọc được thanh tịnh

 Lợi ích đại chúng làm Đạo Sư

 Sẽ được làm Phật hiệu Bất Quái

 Lúc họ ở các nước tu hành

 Người nước ấy tất biết thành Phật

 Do phương tiện nầy đời vị lai

 Dầu độ chúng sanh không tâm quái

 Vì cầu đạo vô thượng an ổn

 Tịnh các quốc độ đều chẳng quái

 Nơi việc được làm tâm không trước

 Nơi đại Bồ đề cũng như vậy

 Hỏi duyên cớ cười Phật đã đáp

 Chúng sanh đều được dứt lòng nghi

 Đại chúng hết nghi đều mừng rỡ

 Quyết định biết rõ họ cúng dường”




PHẨM CÀN THÁT BÀ THỌ KÝ

 

 Bấy giờ lại có ba ức sáu ngàn vạn chúng Càn Thát Bà thấy chư A Tu La, Ca Lâu La, Long Nữ, Long Vương và Cưu Bàn Trà cúng dường Phật được thọ ký, họ vừa lòng xứng ý hớn hở vui mừng sanh tâm hi hữu chưa từng có mà nghĩ rằng : Đức Như Lai thiệt là hi hữu chưa từng có tuyên nói pháp giới không có biến đổi mà thị hiện có làm tăng trưởng căn lành. Dầu không tác giả mà thị hiện tác nghiệp. Chư Càn Thát Bà ở trong pháp ấy rõ biết như vậy rồi, đối với Như Lai sanh lòng tôn trọng phát tâm Vô thượng Bồ đề. Họ mừng vui vì muốn cúng dường Phật, nên hóa hiện ba ức sáu ngàn vạn đầu đại tượng vương đều có sáu ngà. Trên mỗi ngà có bảy ao nước. Trong mỗi ao có bảy hoa sen. Mỗi hoa sen có ngàn cánh,

 

 Trên mỗi cánh có bảy ngọc nữ. Khoảng cách của một cánh sen có bảy thị nữ, trang sức với như’ng đồ trang nghiêm bằng thiên bửu , tay cầm thiên hương để cúng dường. Nơi mỗi đầu đại tượng vương lại hóa làm ba ức sáu ngàn vạn lọng thất bửu, ba ức sáu ngàn vạn trướng bằng thiên lương.

 

 Chư Càn Thát Bà đều ngồi trên tượng vương tấu thiên âm nhạc, ở trên hư không đi nhiễu Phật ba mươi sáu vòng, đem hương trời hoa trời và hoa thất bửu rải cúng dường Phật, mùi hương hoa ấy lan khắp mười phương. Lại mưa nước thơm cõi trời sáu mươi do tuần thành Ca Tỳ La làm cho toàn thành ướt thành bùn thơm, hơi bùn thơm khắp tam thiên Đại Thiên thế giới, chúng sanh nghe hơi ấy đều chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề . Lúc họ tấu âm nhạc , tiếng nhạc ấy vang khắp tam thiên Đại thiên thế giới, chúng sanh nghe tiếng nhạc ấy đều được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề. Chư Càn Thát Bà ở trên tượng vương trần thiết cúng dường Phật, khiến các ngọc nữ tấu nhạc ca vũ. Lại có ngọc nữ động thân tay rải rác thứ bột hương để cúng dường Phật.

 

 Chư Càn Thát Bà ở trên không ngồi tượng vương nhiễu Phật đã ba mươi sáu vòng rồi, họ xuống tượng nhiễu Phật ba vòng đảnh lể Chưn Phật chắp tay đứng một phía nói kệ tán thán rằng :

 

 “ Thế Tôn trí tuệ ngoài ba cõi

 Tự mình ra rồi lại độ người

 Tất cả thế gian không bằng Phật

 Tướng hảo thân sáng rất đoan chánh

 Trời Người tối diệu vô biên xưng

 Thị hiện thế gian chẳng nghĩ bàn

 Chẳng thấy một pháp tướng khác

 Mà dạy chúng sanh tu thiện nghiệp

 Pháp chơn như không biến đổi khác

 Chỉ có ngôn thuyết không có nghĩa

 Không có dụng sự và người dùng

 Dầu vậy Phật độ các quần sanh

 Chẳng đến chẳng đi cũng chẳng sanh

 Phật hay diễn thuyết pháp như vậy

 Dầu nói các pháp thể tánh kgông

 Thế Tôn lại bảo siêng hành đạo

 Không có một pháp hay tự tác

 Người sáng thế gian nói có tác

 Các pháp đều chẳng tự hay biết

 Thế Tôn thị hiện làm tất cả

 Như xe họp nhiều những chi phần

 Chi phần chẳng biết tự hay làm

 Công dụng xe ấy hiện thấy được

 Phật nói các pháp cũng như vậy

 Các pháp mỗi mỗi chẳng dạy nhau

 Cũng chẳng thay đổi dạy bảo nhau

 Tất cả các pháp chẳng nương nhau

 Pháp bổn bất sanh cũng bất diệt

 Phật vì thế để nói như vậy

 Thế đế các pháp chẳng toàn không

 Như pháp thế đế thể tánh trụ

 Biết như vậy rồi vì chúng nói

 Thế Tôn nói các pháp như vậy

 Đại bi chỗ làm rất kỳ đặc

 Các pháp thể tánh chẳng thể thấy

 Như Lai phương tiện nói pháp trụ

 Chúng tôi nguyện làm vô biên xưng

 

 Đại Đại Sư đủ tướng trăm phước

 Đại hỉ lợi ích các thế gian

 Nguyện làm Thế Tôn như Phật vậy

 Chúng tôi nguyện nơi kẻ ám chướng

 Những người tùy thuận dòng tham dục

 Người khát ái buộc ràng trăm khổ

 Cúng tế độ họ như Thế Tôn

 Chúng tôi nguyện nơi người nhiều khổ

 Người chẳng thấy bờ kia mà trói

 Người chạy như vượn khỉ nhảy nhót

 Cứu tế độ họ như Thế Tôn

 Chúng tôi nguyện như người mù lòa

 Người sáu loài nhọc nhằn qua lại

 Người nơi mình tự hoại nghiệp quả

 Cứu tế độ họ như Thế Tôn ” .

 

 Đức Phật biế chư Càn Thát Bà sanh lòng tin sâu nên hiện tướng mỉm cười.

 

 Huệ Mạng Mã Thắng Tỳ Kheo nói kệ bạch hỏi rằng :

 

 “ Vô biên oai đức hiện mỉm cười

 Đạo Sư mỉm cười chẳng không nhơn

 Nguyện Phật mau nói nhơn duyên ấy

 Dứt trừ chúng sanh các mối nghi

 Nay thấy Thế Tôn mỉm cười rối

 Đại chúng thảy đều sanh nghi hoặc

 Tất cả nguyện nghe nghĩa mỉm cười

 Ngưỡng mong đại bi dứt mối nghi

 Ai nơi Phật pháp sanh kính tin

 Ai rời được nơi các lưới nghi

 Phật biết chúng sanh tin sâu rối

 Trời Người bực thánh nên hiện cười

 Ai có trí tuệ hay tùy thuận

 Phát chơn như được Như Lai nói

 Biết nhiệm huệ giải hạnh họ rồi

 Ở trong đại chúng hiện mỉm cười

 Tất cả đại chúng không dị tâm

 Chỉ muốn thích nghe Thế Tôn nói

 Chắp mười ngón tay để trên đầu

 Nhứt tâm chiêm ngưỡng mặt Như Lai

 Lìa các uế trược không lo rầu

 Mắt đời hiện còn nên mừng rỡ

 Vì trừ tất cả lòng nghi hoặc

 Nguyện đại bi nói nhơn duyên cười ».

 

 Thế Tôn nói kệ đáp Huệ Mạng Mã Thắng rằng :

 

 « Phập hiện mỉm cười vì đời vậy

 Lành thay Mã Thắng hỏi đúng giờ

 Đại chúng thiện căn sẽ tăng trưởng

 Vì Phật mỉm cười sự thọ ký

 Mã Thắng lắng nghe lời Phật nói

 Đạo Sư nay hiện cớ mỉm cười

 Phật sẽ nói rõ nghĩa mỉm cười

 Ông phải vui mừng nghe Phật nói

 Càn Thát Bà Vương kính tin Phật

 Tâm họ thanh tịnh sanh mừng rỡ

 Y nơi thiệt pháp nhập pháp rồi

 Nơi Phật chánh pháp sanh hỉ kỳ

 Các pháp tịch diệt an bất động

 Hàng đại chúng nầy xu thiệt tế

 Như thành Càn Thát nhập như vậy

 Cúng dường nơi Phật không ai bằng

 Các pháp như vậy không có sanh

 Tất cả cũng lại chẳng tận diệt

 Đại chúng tư duy pháp như huyễn

 Chưa hiểu rõ được sanh nghi hoặc

 Pháp chẳng nói được phương tiện nói

 Phật vì chơn thiệt nên như vậy

 Chúng ấy vào chánh pháp Phật rồi

 Ngồi tượng Đại Long cúng dường Phật

 Quan sát Bồ đề không sanh diệt

 Càn Thát Bà Vương cúng dường Phật

 Thương xót chúng sanh hạng ngu mê

 Vì thế mà cầu Nhứt thiết trí

 Chúng ấy phát nguyện sẽ thành Phật

 Khiến người ngu mê mất trí huệ

 Nhập pháp chơn thiệt an trụ rồi

 Khiến được cầu bất tử tịch diệt

 Chúng ấy cúng dường như vậy rồi

 Bỏ rời thân quỉ lòng mừng rrỡ

 Quyết được vãng sanh trên cung trời

 Hằng cùng đế thích gần gũi nhau

 Được gặp nhiều ức na do tha

 Cúng dường Như Lai Vô Thương Giác

 Từ một Phật độ đến Phật độ

 Nơi chỗ chư Phật được nghe pháp

 Chúng ấy tu tịnh Phật hạnh rồi

 Chỗ được Phật độ cũng thanh tịnh

 Hóa vô lượng chúng phát đạo tâm

 Khiến họ tăng trưởng Phật chủng tử

 Biết các thế gian tánh không rời

 Cũng đem pháp ấy dạy bảo người

 Khiến chúng an trụ Nhứt thiết trí

 Trụ thế vô lượng na do tha

 Phật ấy đồng hiệu vô biên huệ

 Mỗi mỗi chư Phật trụ ở đời

 Thảy đều vô lượng do tha kiếp

 Diễn nói Phật đạo cho người nghe

 Như vậy Thích Ca Mâu Ni Phật

 Nói báo Càn Thát Bà cúng dường

 Cùng họ thọ ký khiến được nghe

 Nhơn duyên cười mà Mã Thắng hỏi

 Đại chúng nghe rồi đều vui mừng

 Biết Phật thọ ký rất đáng thích

 Nghe Phật thọ ký vô thượng rồi

 Thảy đều vui y Thích Ca Phật”.




PHẨM DẠ XOA THỌ KÝ

 

 Bấy giờ lại có tám ức Dạ Xoa thấy A Tu La , Ca LâuLa, Long Nữ, Long Vương, Cưu bàn Trà, Càn Thát Bà cúng dường Phật được thọ ký , họ vui mừng hớn hở đều sanh lòng hi hữu, chưa từng có biết Phật Thế Tôn trí huệ vô tận tối tôn tối thắng trí huệ vô ngại bất khả tư nghì. Họ còn lại được nghe pháp môn thứ đệ. Đối với Phật, họ tưởng là Đạo Sư, là vô tận huệ. Đối với chánh pháp của Phật sanh lòng yêu thích. Vì cúng dường nên phát khởi tinh tấn nói kệ tán thán rằng :

 

 « Chúng tôi tán thán đấng cứu thế

 Vì Phật đầy đủ trí lực vậy

 Vô tận vô lượng như biển cả

 Thế Tôn thân tốt không ai bằng

 Tu Di còn biết được khinh trọng

 Hư không còn biết được rộng hẹp

 Sức trí huệ của đức Như Lai

 Tất cả chẳng ai đo lường được

 Biết các chúng sanh lòng kính tin

 Những người đáng độ đều độ xong

 Nơi người được độ biết xu hướng

 Nên Phật là không ai sánh bằng

 Tùy chúng tu tạo nghiệp thiện ád

 Tất cả chỗ sanh thọ thân hình

 Biết rõ căn tính đáng thọ pháp

 Nên Phật là không ai sánh bằng

 Tham dục ác hành sân khuể hành

 Si hành phiền não Phật đều biết

 Kiêu mạn tật đố cũng biết rõ

 Nên Phật là không ai sánh bằng

 Chúng sanh nơi đây nhiều lầm lỗi

 Như Lai biết rõ nghiệp đạo họ

 Thế Tôn biết họ rất lanh lẹ

 Nên Phật là không ai sánh bằng

 Thiện Thệ thấy rõ các htế gian

 Tùy phương diện họ có lỗi lầm

 Và cùng ngữ ngôn họ sai lỗi

 Thế Tôn thấy rõ hết tất cả

 Tại trong lục đạo ở bao lâu

 Tùy họ thọ khổ nhiều hay ít

 Và họ thọ lấy các thứ thân

 Tất cả Thế Tôn đều thấy biết

 Tùy sức phiền não họ phát khởi

 Phương tiện tạo tác và gây nghiệp

 Theo nghiệp thọ lấy các thứ khổ

 Tất cả Đạo Sư đều biết rõ

 Tùy họ chỗ cầu đạo giải thoát

 Ở trong Phật pháp đã xuất gia

 Tinh tấn tu học thánh đạo rồi

 Dứt hết phiền não Phật đều biết

 Ở trong Phật pháp có phàm phu

 Dầu được xuất gia chẳng biết nghĩa

 Chê bai pháp diệu của người trí

 Thế Tôn cũng lại biết rõ họ

 Những kẻ chê bai chánh pháp ấy

 Nghiệp hành ấy mắc những khổ não

 Tùy tại địa ngục ở lâu mau

 Như Lai cũng đều biết rõ cả

 Nơi Phật đã được kính tin sâu

 Xuất gia thọ trì tạng chánh pháp

 Quán sát các pháp thảy đều không

 Dứt trừ tất cả đường sanh tử

 Chẳng muốn tất cả thân sanh tử

 Quan sát thân nầy dường như ảo

 Biết các âm thanh đều như hưởng

 Ở vững nơi đạo Phật cũng biết

 Tán thán Đạo Sư không sánh bằng

 Nay tôi chỗ được khối phước đức

 Dùng phước đức này nguyện thành Phật

 Cũng nguyện chúng sanh thành Chánh giác ” .

 

 Đức Thế Tôn biết chúng Dạ Xoa thâm tâm kinh tín nên hiện tượng mỉm cười.

 

 Huệ Mạng Mã Thắng Tỳ Kheo nói kệ bạch hỏi rằng :

 

 “Đức Thế Tôn hiên tướng mỉm cười

 Ngưỡng mong cho biết bhơn duyên cười

 Tất cả chư Phật chẳng vô cớ

 Mà hiện ra tưởng mỉm cười ấy

 Nay đại chúng nầy đều hoài nghi

 

 Vì thấy Đạo Sư mỉm cười vậy

 Ngưỡng mong Thế Tôn trừ nghi cho

 Khiến tất cả chúng được mừng rỡ

 Nay người được kính tin nơi Phật

 Và người biết chánh pháp vi diệu

 người tâm kiên cố bất động ấy

 Nguyện Phật tuyên nói cho họ nghe

 Đại chúng tại đây đều hoài nghi

 Tất cả chiêm ngưỡng mặt Như Lai

 Hôm nay sẽ có những sự gì

 Duy nguyện Thế Tôn dứt nghi cho

 Hôm nay ai hiện đại thần lực

 Hôm nay ai phát đại tinh tấn

 Hôm nay Phật cùng ai thân hữu

 Nơi đại chúng nầy xin hiển hiện

 Lành thay Mâu Ni thương thế gian

 Ngưỡng mong dứt trừ các nghi hoặc

 Trời Người đại chúng đều được nghe

 Hôm nay tất cả rất mừng vui ”.

 

 Đức Thế Tôn nói đáp Mã Thắng Tỳ Kheo rằng :

 

 “ Lành thay lời hỏi của Mã Thắng

 Nay sẽ lợi ích lớn thế gian

 Do ông hỏi được nhơn duyên cười

 Nên khen ông khéo hiểu ý Phật

 Nay Phật sẽ đáp hết nghĩa ấy

 Ông nên nhứt tâm chuyên lắng nghe

 Biết tâm ý các Dạ Xoa rồi

 Phật vì thế gian hiện mỉm cười

 Các chúng Dạ Xoa lòng kính tin

 Vì họ biết Bồ đề tịch diệt

 Khen Phật công đức chơn thiệt rồi

 Phát tâm xu hướng đại Bồ đề

 Vì họ biết các pháp không tịch

 Trừ khiến tất cả tướng hư vọng

 Nguyện bỏ tất cả loài sanh tử

 Phát tâm xu hướng đại Bồ đề

 Do sức thiền định biết các ấm

 Chỉ là thế đế chẳng chấp trước

 Chẳng trước sanh tử như hoa sen

 Phát tâm sanh tử đại Bồ đề

 Những sự chướng ngại trong sanh tử

 Họ thấy là không chẳng bị buộc

 Biết Phật Bồ đề vô thượng rồi

 Họ có thể tu Bồ đề hạnh

 Những sanh lão tử thảy đều không

 Đây là đâo Bồ đề vô thượng

 Biết pháp tự tánh không tịch rồi

 Nay được đại Bồ đề an ổn

 Biết ấm tự tánh không tịch rồi

 Bồ đề tịch tĩnh tánh cũng lìa

 Hạnh Bồ đề được tu cũng không

 Trí biết như vậy phàm chẳng rõ

 Hay quán trí huệ tánh tự không

 Cảnh giới được quán đều tịch diệt

 Người biết pháp biết thảy đều không

 Người nầy hay tu Bồ đề đạo

 Phải biết không cũng tánh tự không

 Tướng và nguyện cũng không thể tánh

 Nếu người có thể biết như vậy

 Người nầy hay tu hạnh chơn thiệt

 Trời Người đại chúng nghe đây rồi

 Sanh lòng mừng rỡ được lợi ích

 Nơi Phật tất cả kính tin rồi

 Tâm trụ câu Bồ đề tịch tĩnh

 Nay cúng dường thù thắng nầy rồi

 Tâm chúng Dạ Xoa đều thanh tịnh

 Những bực trí nầy bỏ quỉ đạo

 Hưởng thọ vui trong thiện đạo

 Nơi nhiều ức Phật thuở vị lai

 Họ dùng thần thông trong một niệm

 Nơi nhiều Phật độ sắm cúng dường

 Ở chỗ chư Phật được pháp nhẫn

 Nơi các thế giới chẳng khởi tướng

 Người trí hay dùng thần lực đến

 Quán thế gian nầy như ảo hóa

 Người trí du hành không thủ trước

 Dạ Xoa dũng mãnh cúng dường Phật

 Sẽ được vô thượng đại Bồ đề

 Cũng được vô thượng tịnh Phật độ

 Trong ấy sẽ độ vô lượng chúng

 Chúng ấy sẽ thành Thế Gian Giải

 Tất cả đồng hiệu Vô Biên Trí

 Danh nghe mười phương thọ ngàn kiếp

 Trí huệ thọ mạng tịch diệt đồng

 Chư Phật ấy có chúng Thanh Văn

 Dường như tinh tú giữa đêm vắng

 Chúng ấy dễ được đại Bồ đề

 Tất cả không có sự nặn khổ

 Trời Người đại chúng nghe đây rồi

 Vì đạo Bồ đề lòng mừng rỡ

 Tâm họ kiên cố phát tinh cần

 Dùng sức tinh tấn gìn công hạnh ”.




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm


Comments

Popular posts from this blog