Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

KINH ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 31



PHÁP HỘI

XUẤT HIỆN QUANG MINH

THỨ MƯỜI MỘT


Ông phải như núi to

 Tâm an trụ bất động

 Bị chưởi hoặc bị đánh

 Đều nhẫn được tất cả

 Ông phải vì chúng sanh

 Làm bạn lành chơn thiệt

 Phải bỏ tâm hạ liệt

 Thường tu hạnh thanh tịnh

 Ông dùng tâm kiên cố

 Diễn nói pháp vô thượng

 Kinh vi diệu như đây

 Nên trao người từ tâm

 Muốn cầu trí vô thượng

 Chớ sợ hãi sanh tử

 Do đây bỏ được ác

 Sẽ được lợi thù thắng

 Ví như người trí sáng

 Khéo hay dùng được lửa

 Hoặc nấu chín đồ ăn

 Chẳng bị lửa cháy phỏng

 Nếu là kẻ ngu si

 Không có phương tiện khéo

 Để lửa chạm vào tay

 Liền bị lửa cháy phỏng

 Cũng như người chúng độc

 Mê muội tâm cuồng loạn

 Dùng lửa để cứu trị

 Nhơn đó mà được lành

 Nguyệt Quang ông phải biết

 Người trí cũng như vậy

 Nương ý biết ý không

 Nên ở trong sanh tử

 Nương nhãn biết nhãn không

 Không chấp trước nơi nhãn

 Nếu biết được như vậy

 Ở nhãn cũng vô hại

 Nếu biết nhãn tánh không

 Thành tựu trí chơn thiệt

 Vì do trí chơn thiệt

 Sẽ phát được quang minh

 Nếu biết nhãn tánh không

 Dứt hẳn lòng tham dục

 Vì không có tham dục

 Sẽ phát được quang minh

 Tất cả những phiền não

 Sân, si và ngã chấp

 Phú, não cùng xan, tật

 Vô tàm và vô quý

 Phẫn, hận cùng cống cao

 Kiêu mạn và thượng mạn

 Siểm cuống cùng phóng dật

 Mỗi món nói như tham

 Nếu được trí chơn thiệt

 Biết rõ nhãn tịch diệt

 Do vì biết tịch diệt

 Sẽ phát được quang minh

 Nếu được trí chơn thiệt

 Ở trong Phật lý thú

 Vì ở trong lý thú

 Sẽ phát được quang minh

 Nếu được trí chơn thiệt

 Ở trong Phật phương tiện

 Vì ở trong phương tiện

 Sẽ phát được quang minh

 Nếu chẳng tu thiệt trí

 Mà rời được chướng não

 Và thành xuất hiện quang

 Ta chưa từng nghe thấy

 Nếu siêng tu thiệt trí

 Rời hẳn những chướng não

 Thuận theo công hạnh ấy

 Sẽ được xuất hiện quang

 Nếu cầu hạnh tối thắng

 Phải học tập kinh nầy

 Cúng dường chư Như Lai

 Được thiệt trí phương tiện

 Nếu tu trí chơn thiệt

 Phải cúng dường chư Phật

 Thành xuất hiện quang minh

 Như trái nằm trong tay

 Nếu mê nhãn vô ngã

 Thì mất pháp Sa Môn

 Người ấy chẳng nên được

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu biết nhãn vô ngã

 Thì nên pháp Sa Môn

 Người ấy sẽ chứng được

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu biết nhãn tận tế

 Thì biết nhĩ sanh tế

 Do biết nhĩ sanh tế

 Nên thành pháp Sa Môn

 Nếu chẳng biết khắp được

 Biên tế của nhãn tánh

 Thì cũng chẳng biết khắp

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy chẳng được thành

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu có thể biết khắp

 Biên tế của nhãn tánh

 Thì cũng biết khắp được

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy sẽ chứng được

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu chẳng khéo biết rõ

 Biên tế của nhãn sanh

 Thì chẳng khéo biết rõ

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy chẳng được thành

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu khéo biết rõ được

 Biên tế của nhãn tánh

 Thì khéo biết rõ được

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy sẽ chứng được

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu chẳng hiện biết rõ

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy chẳng được thành

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu được hiện biết rõ

 Biên tế của nhãn tánh

 Thì cũng hiện biết rõ

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy sẽ chứng được

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu chẳng khéo biết rõ

 Biên tế của nhãn tánh

 Thì chẳng khắp biết rõ

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy chẳng được thành

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu khéo biết rõ được

 Biên tế của nhãn tánh

 Thì cũng khéo biết rõ

 Biên tế của nhãn sanh

 Người ấy sẽ chứng được

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu chẳng khéo biết rõ

 Thanh tịnh của nhĩ tánh

 Người ấy chẳng được thành

 Xuất hiện quang như vậy

 Nếu biết khéo biết rõ được

 Thanh tịnh của nhãn tánh

 Thì cũng khéo biết rõ

 Thanh tịnh của nhĩ tánh

 Người ấy sẽ chứng được

 Xuất hiện quang như vậy

 Tất cả nhĩ, tỷ, thiệt

 Thân, ý cùng sắc, thanh

 Hương, vị, xúc và pháp

 Địa, thủy, hỏa phong đại

 Tánh sự thế gian khổ

 Uẩn giới thế sắp sanh

 Cùng với thanh hương thảy

 Đều như nhãn mà nói.

 

 Nầy Nguyệt Quang! Nếu có chúng sanh nào phát tâm xu hướng. Đại thừa vì họ muốn được thành tựu viên mãn xuất hiện quang minh như vậy, thì có tám mươi thiện căn làm tư lương.

 

 Những gì là tám mươi? Đó là hộ niệm chúng sanh. Không có lòng làm tổn hại. Với giới cấm thanh tịnh thì không kém khuyết. Tâm thường bình đẳng. Không có dua vậy. Cũng không có tâm xan, tật, tham, cuống. Sâu tin kinh điển vi diệu Đại thừa. Cũng chẳng mến luyến giàu sang, kiêu căng, phóng dật. Đầy đủ sức nhẫn nại. Chí nguyện không thối thất. Ý thích thanh tịnh. Ở a lan nhã. Chẳng nương ở quyến thuộc, lợi dưỡng, danh vọng. An trụ các thiền định. Xuất hiện quang tam muội. Với người có giới hạnh chẳng siểm khúc phụng thờ. Với người đồng phạm hạnh thì phát khởi ý thích thù thắng. Vì kính mến pháp nên rất tôn trọng Hòa Thượng và A Xà Lê. Thấu rõ khế kinh. Tuyên thuyết khéo giỏi. Lời nói thành thiệt. An trụ chánh tư duy. Siêng trồng căn lành. Thường làm việc bố thí. Biết rõ nghiệp ma. Giữ kín các căn. Lời nói an tường rõ rệt. Biết rành chơn đế. Cũng hay biết rõ tự tướng của các địa vị. Cầu vô tận sắc. Chẳng tiếc thân mạng. Dạy dỗ tứ chúng. Tuyệt suy tưởng thế gian. Rời các tà kiến cho rằng không có đời sau. Chẳng hiện tướng lạ phỉnh kẻ chưa học. Thường sự hết sức đem pháp mà mình đã học ra khai thị cho người. Chẳng bao giờ khen ngợi âm thanh ca vịnh. Cũng chẳng khen ngợi đồ trang sức. Chứng nhập các đế lý. Đầy đủ đa văn. Rời bỏ ngủ nghỉ. Siêng cầu chánh pháp. Tôn trọng đức Phật. Phát tâm Bồ đề. Bỏ sự nghiệp thế gian. Tu tập các học xứ. Vì mến pháp nên nương dựa các bạn hay giỏi. Cầu tìm các căn lành. Không có lòng chán đủ. Mến thích xuất gia. Hộ trì Phật pháp. Chẳng khởi ác nghiệp. Với giáo pháp không nghi ngờ. Khéo nói ví dụ. Khai thị bí mật. Với đại Bồ đề chí cầu không mỏi. Chưa hề quên mất kinh điển đã được học. Chẳng bỏ tự học. Dẹp phục dị luận. Cầu đạo giải thoát xuất ly. Tu vô lượng công hạnh. Tâm mình quyết định nơi pháp trí kia. Thấy rõ nhơn quả luân hồi nối nhau. Chẳng luyến được ba cõi. Rời lìa tăng thượng mạn. Với kẻ bất tín thì xây dựng đối trị. Rõ thấy vị lai quả báo sai biệt. Khéo biết tiền tế. Chẳng nhờ mượn duyên người khác. Nơi hạnh viễn ly thì siêng năng tu tập. Nơi tướng hảo của Phật thì trang nghiêm toàn vẹn.

 

 Trên đây là tám mươi thiện căn làm tư lương.

 

Lại nầy Nguyệt Quang! Tám mươi pháp ấy vào trong năm pháp.

 

Những gì là năm pháp? Đó là biết sanh tử. Biết Niết Bàn. Biết phiền não hết sạch. Biết tăng thượng. Biết phước quả.

 

Lại nầy Nguyệt Quang! Năm pháp ấy vào trong hai pháp. Đó là tâm thanh tịnh trang nghiêm và sắc thanh tịnh trang nghiêm.

 

Lại nầy Nguyệt Quang! Hai pháp ấy vào trong một pháp. Đó là có thể thành tựu vô ngại giải thoát của chư Phật Như Lai.

 

Lại nầy Nguyệt Quang! Lại có tám mươi pháp khéo có thể thành tựu vô ngại giải thoát của chư Phật Như Lai.

 

Những gì là tám mươi pháp? Đó là bố thí tư lương. Trí huệ rộng lớn. Tu giới thanh tịnh. Rời phiền não nóng bức. Xô dẹp kiêu mạn. Lời nói dịu dàng. Với các sự việc không việc gì chẳng biết phải thời đúng lúc. Cũng biết bạn lành. Hướng đến Đại thừa. Mặc giáp tinh tiến. Oai nghi lợi ích cho người. Với kẻ sa vào phiền não thì làm cho họ dứt nghi lầm. Phá trừ pháp ác. Tu hành pháp lành. Chẳng làm bạn với người ác. Gieo trồng căn lành không chán đủ. Phát tâm Bồ đề. Dũng mãnh tinh tiến. Hay biết ma sự. Chứng các đế lý. Chơn thiệt cúng dùng. Quyết rõ không nghi. Lòng nhớ đến chúng sanh. Thường cưu lòng tế độ. Chẳng chấp trước ba cõi. Phát khởi tâm rộng lớn. Với chúng sanh bất thiện thì chỉ cho họ thấy lỗi ác. Bỏ tham sân si. Chẳng mong cầu lợi ngũ dục. Thành thục chúng sanh. Sửa sang tháp của Phật. Tôn trọng cung kính các bực thánh. Thân cận phụng thờ người an trụ Đại thừa. Không bao giời khen ngợi người ở thừa hạ liệt. Rời xa hàng thanh văn. Xô dẹp oán địch. Với đức Phật Thế Tôn thì cúng dường rộng lớn. Phụng thờ cúng dường với tâm thù thắng. Được trí vô ngại. Đầy đủ biện tài. Dùng các thí dụ để khai thị chánh pháp. Chẳng bao giờ sai trái với tánh không. Cầu pháp không biếng trễ. Phát bày nghĩa sâu xa. Đủ đại tổng trì. Thuyết pháp không nhiễm trước. Có thể truyền bá rộng rãi hóa đạo không nhàm chán. Viên mãn các công hạnh. Có oai đức lớn. Biện tài không trệ ngại. Thành tựu đa văn. Chẳng khen ngưởi ác. Tu các nghiệp lành. Hiểu rõ các uẩn. Rời bỏ các kiến chấp. Thông đạt nhơn tánh. Vượt hơn chỗ sở hành. Xa rời cảnh quấy. Phát sanh lòng tin thanh tịnh. An trụ chánh đạo. Ưa thích Đại thừa. Bình đẳng nhiếp thọ. Chẳng chấp trước vô ngã. Chẳng nhàm sanh tử. Thích cầu Niết Bàn. Vì thiểu dục nên ở a lan nhã. Thường đi khất thực không lười mỏi. Tùy có được gì trong lòng sanh vui mừng biết đủ. Rời vô tàm vô quý. Thân cận chư Phật. Cùng ở vơí bạn lành. Bỏ các phi loại. Thương các phàm phu. Đồng hạnh chúng sanh. Với đức Phật có lòng tin thanh tịnh. Rời lìa chẳng phải pháp khí. Với người trái nhau thì chẳng cùng họ chuyện vãn. Người chẳng đến cầu thì chẳng chỉ dạy, nếu có người đến cầu thì theo cơ nghi mà thuyết pháp. Bình đẳng với món ăn. Thường làm việc khắp bố thí mở cửa bố thí lớn.

 

Nầy Nguyệt Quang! Tám mươi pháp ấy có thể được vô ngại giải thoát của chư Phật.

 

Được nghe pháp ấy, Nguyệt Quang Đồng Tử rất vui mừng, liền ở trước Phật nói kệ rằng:

 

Đức Phật biết nhãn tận biên tế

Nên hay xuất hiện trí thanh tịnh

Vì hay xuất hiện trí thanh tịnh

Nên đủ Như Lai thanh tịnh quang

Đức Phật biết rõ nhãn vô ngã

Nên hay xuất hiện thanh tịnh âm

Vì hay xuất hiện thanh tịnh âm

Nên đủ Như Lai tướng phạm âm

Thuở xưa đức Phật lợi chúng sanh

Nên hay thành tựu ngữ thanh tịnh

Lợi ích vô lượng các thế gian

Đức Phật biết rõ nhãn tánh không

Nên hay thành tựu trí tổng trì

Vì hay thành tựu trí tổng trì

Xuất hiện Như Lai vô lượng quang

Đức Phật biết rõ nhãn sai biệt

Tên khác của nhãn cũng vô biên

Vì biết danh tự khác vô biên

Xuất hiện Như Lai vô lượng quang

Phật biết văn tự sai biệt môn

Biết nhãn rỗng không ly văn tự

Vì biết nhãn không ly văn tự

Xuất hiện Như Lai vô lượng quang

Nếu người suy gẫm nhãn vô ngã

Thì biết lời Phật là chơn thiệt

Vì biết lời Phật là chơn thiệt

Xuất hiện Như Lai quyết định quang

Như Lai thành tựu thắng thần thông

Liền biết vô biên nhãn diệt hoại

Vì biết rõ được nhãn diệt hoại

Lợi ích tất cả các thế gian

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Rõ thấu vô biên nhãn sanh khởi

Như Phật biết được nhãn sanh khởi

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Nhĩ tỷ thiệt thân cùng với ý

Sắc thanh hương vị súc và pháp

Nhẫn đến thế gian thanh danh thảy

Phải biết quan sát đều như vậy

Đaị bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Bố thí ba la mật

Như Phật Bố thí ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Tịnh giới ba la mật

Như Phật Tịnh giới ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Nhẫn nhục ba la mật

Như Phật Nhẫn nhục ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Tinh tiến ba la mật

Như Phật Tinh tiến ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Thiền định ba la mật

Như Phật Thiền định ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Trí huệ ba ba mật

Như Phật Trí huệ ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ Pháp thân ba la mật

Như Phật Pháp thân ba la mật

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ vô biên sắc thanh tịnh

Như Phật đã đủ sắc thanh tịnh

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ vô biên ý thanh tịnh

Như Phật đã đủ ý thanh tịnh

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ vô biên thắng công đức

Như Phật đã đủ thắng công đức

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ vô biên sắc tướng tốt

Như Phật đã đủ sắc tướng tốt

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ vô biên thanh thanh tịnh

Như Phật đã đủ thanh thanh tịnh

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã đủ vô biên đại thần biến

Như Phật đã đủ đại thần biến

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Vì độ chúng sanh ở ba cõi

Như Phật hóa độ chúng sanh ấy

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô biên hạnh sanh tử

Như Phật đã khỏi hạnh sanh tử

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô biên hạnh tham dục

Như Phật đã khỏi hạnh tham dục

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô biên hạnh sân hận

Như Phật đã khỏi hạnh sân hận

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô lượng hạnh ngu si

Như Phật đã khỏi hạnh ngu si

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô lượng hạnh tham sân

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô lượng hạnh sân si

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô lượng tham si hạnh

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

Đã khỏi vô biên hạnh đẳng phần

Như Phật đã khỏi hạnh đẳng phần

Tôi nguyện cũng mau được như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh tham dục

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích các thế gian

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh sân hận

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích các thế gian

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh ngu si

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích các thế gian

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh tham sân

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích các thế gian

Tôi nguyện cũng như trí như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh sân si

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích các thế gian

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh tham si

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích các thế gian

Tôi cũng nguyện nên trí như vậy

Đạo sư đã khỏi hạnh đẳng phần

Làm lợi ích khắp các thế gian

Như Phật lợi ích khắp thế gian

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Điều phục tất cả chúng chư Thiên

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Được làm Điều Ngự Thiên Nhơn Sư

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Điều phục tất cả các Long chúng

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Được làm Điều Ngự Thiên Nhơn Sư

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Điều phục tất cả chúng Dạ Xoa

Tôi nguyện cũng được trí như vậy

Được làm điều ngự thiên nhơn sư

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Điều phục tất cả Càn Thát Bà

Nhẫn đến vô lượng Cưu Bàn Trà

Chỗ có bao nhiêu các quyến thuộc

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Được làm Điều Ngự Thiên Nhơn Sư

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Biết rõ nghĩa chơn thiệt các pháp

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Với nghĩa chơn thiệt không còn nghi

Như Lai biết rõ khổ vô biên

Lợi ích tất cả loài quần sanh

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Với khổ tận kia không còn nghi

Như Lai biết rõ nhơn tận biên

Lợi ích tất cả loài quần sanh

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Với nhơn tận kia không còn nghi

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu hành nghiệp của thế gian

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Với nghiệp thế gian không còn nghi

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu thế gian xứ phi xứ

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu thế gian các nghiệp quả

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu thế gian các chủng tánh

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu tất cả hạnh sáu loài

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích vô lượng các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu thế gian các thắng giải

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu tất cả các căn tánh

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu tịnh lự các tam muội

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu giải thoát các công hạnh

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu sở hành của đẳng phần

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu sở hành của đẳng trí

Tôi nguyện thành tựu trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai biết rành về sanh tử

Lưu chuyển đều do phiền não sanh

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ìch tất cả các thế gian

Như Lai tất cả đều biết rõ

Lợi ích thế gian không ai bằng

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai khéo trụ nơi đẳng trì

Phát khởi trí phương tiện thù thắng

Nguyện tôi cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu vô biên hạnh đời trước

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu sanh tử không có biên

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rõ thấu tất cả phiền não hết

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Giác

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Rời các phiền não và tập khí

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Biết rõ dục nhiễm chướng Bồ đề

Tôi nguyện cũng thành trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Biết rõ pháp xuất ly sanh tử

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai biết rành nơi pháp nghĩa

Giác ngộ vô lượng các chúng sanh

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai biết rành nơi pháp tánh

Như huyễn như mộng như dương diệm

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai biết rành nơi thế gian

Tất cả văn tự và ngôn thuyết

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai đầy đủ thắng biện tài

Khai thị pháp thậm thâm vi diệu

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai khéo điều thân ngữ ý

Tất cả đều tùy trí huệ hành

Tôi cũng nguyện nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai biết rành cả tam thế

Không lấy không luyến không chướng ngại

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Lợi ích tất cả các thế gian

Như Lai khéo tu giới định huệ

Nơi ấy tất cả không thối chuyển

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Được làm tam giới đại bi tôn

Như Lai khéo tu hạnh giải thoát

Giải thoát tri kiến không thối chuyển

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Được làm tam giới đại bi tôn

Như Lai khéo tu nơi chánh quán

Nhơn Thiên thế gian không ai bằng

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Được làm tam giới đại bi tôn

Như Lai đầy đủ trí thù thắng

Nơi các thế pháp không ô nhiễm

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Được làm tam giới đại bi tôn

Như Lai biết rành nơi thế gian

Đều thấy rõ các thú các loài

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi các thú ấy không còn nghi

Như Lai biết rành mé tận sanh

Nên ở nơi ấy không mê hoặc

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi tánh tận sanh được không nghi

Như Lai biết rành mé tịch tịnh

Nên ở nơi ầy không nghi hoặc

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi tánh tịch tịnh được không nghi

Như Lai biết rành mé lưu chuyển

Nên ở nơi ấy không nghi hoặc

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi tánh lưu chuyển không còn nghi

Như Lai biết rành tiền hậu thế

Nên đầy đủ được trí vô sư

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi tánh chuyển sanh không còn nghi

Như Lai biết rành tiền hậu thế

Nơi nhãn đoạn thường không chấp trước

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi tiền hậu tế không còn nghi

Như Lai biết rành mé tận sanh

Nơi nhãn đoạn thường không chấp trước

Tôi nguyện cũng nên trí như vậy

Nơi tánh tận sanh không còn nghi

Nếu người chẳng rõ tiền hậu tế

Thì họ chấp lấy nơi tham dục

Như Lai chứng biết tiền hậu tế

Nên nơi tham dục không ô nhiễm

Nếu người chẳng rõ mé hữu vô

Thì họ chấp lấy nơi tham dục

Như Lai chứng biết mé hữu vô

Nên nơi tham dục không ô nhiễm

Nếu người chẳng rõ tận vô tận

Thì họ chấp lấy nơi tham dục

Như Lai chứng biết tận vô tận

Nên nơi tham dục không ô nhiễm

Nếu người chẳng rõ chuyển vô chuyển

Thì họ chấp lấy nơi tham dục

Như Lai chứng biết chuyển vô chuyển

Nên nơi tham dục không ô nhiễm

Sân si phẫn phú và tật cuống

Siểm khúc cống cao với mạn kiêu

Bố thí trì giới cùng nhẫn nhục

Thiền định trí huệ đều như vậy.

 

Lúc ấy đức Thế Tôn biết tâm niệm sâu kín của đồng tử Nguyệt Quang, đức Phật mỉm cười phóng ánh sáng mầu hoàng kim chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới. Ở các thế giới ấy làm lợi ích xong, ánh sáng ấy trở về nhiễu đức Phật ba vòng rồi từ trên đảnh đầu của đức Phật mà thâu vào.

 

Di Lặc Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất đảnh lễ chưn đức Phật, rồi chắp tay cung kính nói kệ khen ngợi bach hỏi đức Phật :

 

 Tiếng ca lăng tần già

 Mây sấm sư tử rống

 Phát tiếng trống pháp lớn

 Cớ gì Phật mỉm cười

 Sáng sớm ngàn mặt trời

 Âm thanh hay thanh tịnh

 Công đức rất hy hữu

 Cớ gì hiện quang minh

 Thí giới nhẫn tinh tiến

 Định huệ thảy trang nghiêm

 Tất cả đều viên mãn

 Cớ gì hiện quang minh

 Tiếng của Phật nhu nhuyến

 Thường xa rời thô ngữ

 Khéo chữa bệnh chúng sanh

 Cớ gì hiện quang minh

 Đại bi Lưỡng Túc Tôn

 Biết nhãn thường không tịch

 Dùng phạm âm thanh tịnh

 Vì chúng sanh diễn thuyết

 Nhĩ tỷ thiệt thân ý

 Nhẫn đến thanh danh thảy

 Các khổ tập diệt đạo

 Trí nhẫn cũng như vậy

 Đại bi Lưỡng Túc Tôn

 Biết nhãn tận sanh tế

 Tịch tịnh và lưu chuyển

 Tất cả đều không tịch

 Nhĩ tỷ thiệt thân ý

 Sắc thanh hương vị xúc

 Nhẫn đến thanh danh thảy

 Tất cả đều như vậy

 Phật lại nói nhơn duyên

 Xa rời nơi đoạn thường

 Chẳng tự chẳng tha tác

 Do các duyên mà sanh

 Phật lại dùng các môn

 Khai thị các sự khổ

 Hoặc lại dùng các nghỉa

 Khen ngợi Phật quang minh

 Dùng vô lượng ngôn từ

 Diễn nói pháp tịch diệt

 Không nhơn không thọ giải

 Không ngã không chúng sanh

 Quá khứ vô lượng Phật

 Cũng dùng bất tư nghị

 Trăm ngàn các kệ tụng

 Diễn nói pháp như vậy

 Đức Như Lai diễn thuyết

 Pháp công đức chơn thiệt

 Không nói không người nói

 Pháp được nói cũng không

 Phật nói pháp tối thắng

 Giác ngộ các chúng sanh

 Chư Thiên và Dạ Xoa

 Người nghe đều được tỏ

 Tất cả A Tu La

 Ý thích đã thanh tịnh

 Vô lượng hàng nhơn chúng

 Đều trừ hết lưới nghi

 Biết rõ tánh của tham

 Diệt hại sân cùng si

 Ái mạn và vô minh

 Siểm tật với hí luận

 Nhẫn đến khổ uẩn thảy

 Đều bỏ rời tất cả

 Các cú nghĩa như vậy

 Rốt ráo đều thanh tịnh

 Như Lai nơi một pháp

 Thông đạt các thứ danh

 Số ấy trăm ngàn muôn

 Nhẫn đến bất tư nghị

 Nơi vô lượng chư Phật

 Khéo học pháp như vậy

 Mà ở trong một pháp

 Diễn thuyết không cùng tận

 Như Lai khéo rõ thấu

 Tất cả các pháp môn

 Cũng may phân biệt biết

 Danh cú thượng trung hạ

 Tu học nơi tất cả

 Các thứ dị ngôn từ

 Mà tuyên nói khéo hay

 Nghĩa vi diệu đệ nhứt

 Tiếng thanh tịnh như vậy

 Nhơn duyên hòa hợp khởi

 Cũng chẳng nương lưỡi họng

 Nhẫn đến nơi thân tâm

 Đại địa động sáu cách

 Chúng mười phương đều họp

 Chắp tay chiêm ngưỡng Phật

 Mong trừ nghi cho chúng

 Như Lai khéo biết rõ

 Nhãn tận sanh biên tế

 Tự tánh thường không tịch

 Không khứ cũng không lai

 Không trụ không xứ sở

 Thâm nhập nơi thiệt tế

 Mắt Phật không chướng ngại

 Vì thế nay tôi nghe

 Như Lai khéo biết rõ

 Tánh nhãn tiền hậu thế

 Tận vô tận lưu chuyển

 Tự tánh thường không tịch

 Khai thị các pháp nghĩa

 Khiến thế gian hoan hỉ

 Tiếng đức Phật mỹ diệu

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết tiền hậu tế

 Tánh nhãn thường không tịch

 Rời ngôn từ phân biệt

 Cớ gì miệng mỉm cười

 Phật biết nhãn vô lượng

 Các lời lẽ tuyên nói

 Bổn tánh thường không tịch

 Cớ gì miệng mỉm cười

 Phật biết mé tận sanh

 Tánh nhãn thường không tịch

 Bỏ rời các phiền não

 Chứng Phật Bồ đề trí

 Đủ danh tiếng thù thắng

 Cớ gì miệng mỉm cười

 Phật từ lâu tu học

 Diễn thuyết bất tư nghị

 Rõ thấu tánh nhãn không

 Lìa cấu thường thanh tịnh

 Vô lượng các tâm hành

 Một niệm đều biết rõ

 Quang minh chiếu thế gian

 Đó là thoại tướng gì

 Đại tiên đẳng chánh giác

 Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

 Phiền não đều đã trừ

 Tâm Phật thường tịch tịnh

 Như Lai trí thù thắng

 Thấu suốt mé nhãn tận

 Lại do nhân duyên gì

 Mà hay hiện mỉm cười

 Nhĩ tỷ thiệt thân ý

 Sáu trần và bốn đại

 Nhẫn đến thanh danh thảy

 Thấu suốt mé nhãn tận

 Lại do nhơn duyên gì

 Mà hay hiện mỉm cười

 Nhĩ tỷ thiệt thân ý

 Sáu trần và bốn đại

 Nhẫn đến thanh danh thảy

 Tất cả đều như vậy

 Phật biết nhãn vô ngã

 Cũng thấu nhĩ vô thường

 Và rõ tỷ tánh không

 Cớ gì hiên mỉm cười

 Phật biết thiệt vô ngã

 Cũng thấu thân vô thường

 Và rõ tánh ý không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết sắc vô ngã

 Cũng thấu thanh vô thường

 Và rõ lương tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết vị vô ngã

 Cũng thấu xúc vô thường

 Và rõ pháp tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết địa vô ngã

 Cũng thấu thủy vô thường

 Và rõ hỏa tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết phong vô ngã

 Cũng thấu tánh vô thường

 Và rõ sự tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Biết thế gian vô ngã

 Cũng thấu khổ vô thường

 Và rõ uẩn tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết giới vô ngã

 Cũng thấu thế vô thường

 Và rõ sanh tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết thanh vô ngã

 Cũng thấu danh vô thường

 Và rõ đạo tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết trí vô ngã

 Rõ tịch tịnh vô thường

 Và chúng sanh tánh không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Phật biết tánh vô tánh

 Cũng biết ngã phi ngã

 Và rõ ý thích không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Thấy sanh tử vô ngã

 Cũng thấu thường vô thường

 Và rõ Niết Bàn không

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Như Lai tâm giải thoát

 Danh tiếng khắp ba cõi

 Đế Thích cùng Nhơn Vương

 Long thần đều cúng dường

 Như Lai khéo biết rõ

 Biên tế nhãn tận sanh

 Nhẫn đến nơi tịch tịnh

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Vô lượng hàng Phật tử

 Đều họp ở chúng hội

 Từ miệng Phật sanh ra

 Từ pháp biến hóa sanh

 Đều đến đứng trước Phật

 Chắp tay mà tôn trọng

 Tôi vì các chúng ấy

 Hỏi duyên cớ phóng quang

 Như Lai khéo biết rõ

 Nhãn tánh không vô ngã

 Siêu quá ở tất cả

 Người tại gia tu học

 Phật dùng trí bình đẳng

 Rõ pháp không sai biệt

 Như Lai ý thích biết

 Chẳng dùng thần thông thấy

 Phật biết nhãn vô ngã

 Tánh không chẳng khứ lai

 Trí thanh tịnh vô biên

 Cớ gì hiện mỉm cười

 Như Lai đã hết nơi sanh tế

 Đại bi che khắp các thế gian

 Pháp Vương Tối Thắng Nhơn Trung Tôn

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Vô lượng vô biên đại Bồ Tát

 Và các Thiên chúng oai đức khác

 Đều ở hư không cầm lọng đẹp

 Cả đại địa nầy đều chấn động

 Thuở xưa ai ở chỗ Như Lai

 Mãi mãi tu hành các thiện pháp

 Tâm ý bình đẳng đấng đại bi

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Thuở xưa ai cúng dường chư Phật

 Được nghe pháp này lòng vui mừng

 Đạo Sư Tối Thắng Nhơn Trung Tôn

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Âm thanh của Phật đẹp ý chúng

 Như tiếng nhạn chúa rất mỹ diệu

 Tự nhiên vô lượng tiếng hòa nhã

 Mong mỏi cớ gì phóng quang minh

 Vô lượng câu chi lời phúng tụng

 Khuyên khen vui nhận lời tương ưng

 Giống tiếng hay chim câu chỉ la

 Mong mỏi cớ gì phóng quang minh

 Tiếng thuyết pháp vang như trống sấm

 Nghe khắp vô biên ngàn ức cõi

 Lòng từ tiếng thô hoặc lời dịu

 Cớ gì phóng quang minh kim sắc

 Rõ sanh vô sanh tận vô tận

 Biết nhãn tánh ly không khứ lai

 Pháp cam lộ soi sáng thế gian

 Cớ gì phóng quang minh kim sắc

 Biết nhãn khởi tác thường không tịch

 Không khứ không lai không chỗ trụ

 Như dương diệm bóng nước bọt nước

 Nhơn duyên gì thị hiện mỉm cười

 Nhĩ tỷ thiệt thân và ý căn

 Sắc thanh hương vị xúc và pháp

 Nhẫn đến âm thanh và danh thảy

 Phải biết tất cả cũng như vậy

 Thân Phật kim cuơng thường bất hoại

 Đầy đủ trăm ngàn tướng thù thắng

 Thân không cơ quan mà vận động

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Vế đùi tròn đầy gót chưn dài

 Bụng không lộ bày như sư tử

 Rốn sâu xinh đẹp eo tròn đủ

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Sắc vàng thân sạch rời trần cấu

 Mỗi mỗi sợi lông màu xanh biết

 Xoay hữu hướng lên mũi thơm phức

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Thân đẹp tròn đầy thường an trụ

 Dường như cây chúa ni câu đà

 Tất cả công đức để trang nghiêm

 Âm thanh khiến chúng lòng vui đẹp

 Tay dài tròn trịa vai xinh đẹp

 Cổ thon đầy tròn hiện rõ ngấn

 Đi khắp vô biên trăm ngàn cõi

 Chỉ dạy chúng sanh đường chánh tà

 Răng trắng sạch trong như ngọc tuyết

 Tướng lưỡi rộng dài trùm khắp mặt

 Má như sư tử mũi thẳng dài

 Từ tâm phương tiện thanh tịnh sanh

 Hương hoa sen xanh từ miệng Phật

 Mùi thơm chiên đàn khắp thân Phật

 Thuở xưa đã rộng tu lòng từ

 Ý thích thanh tịnh thường tiếp nối

 Lòng chưn của Phật bằng đầy đẹp

 Dẫm trên mặt đất không cong hõm

 Như bước đi voi chúa sư tử

 Vượt qua tất cả các thế gian

 Tướng thiên bức luân đẹp đoan nghiêm

 Nét sáng thù thắng thường hiện rõ

 Hành động đều lợi ích quần sanh

 Ai thấy đều sanh lòng tín ngưỡng

 Một ngón phát ra ngàn tia sáng

 Chiếu khắp vô biên khắp Phật quốc

 Thuở xưa siêng tu những hạnh lành

 Nên được những tướng trang nghiêm ấy

 Thành tựu sắc thân không ai sánh

 Gương mặt đoan nghiêm rất thù thắng

 Thần biến lợi ích các thế gian

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Bắp chưn tròn thẳng như nai chúa

 Thân chẳng cúi thấp như sư tử

 Xuất hiện làm đèn sáng thế gian

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Âm tàng ngựa chúa không nhiễm trần

 Lòng tay đầy bằng tay quá gối

 Hi hữu Tối Thắng Thiên Nhơn Sư

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Từ thân Phật phóng vô biên quang

 Sắc đẹp tịch tịnh mà hằng chiếu

 Lòng Phật luôn luôn thường thanh tịnh

 Diễn thuyết vô biên những khế kinh

 Chẳng phải những kẻ chấp đoạn thường

 Mà tịnh tu được pháp như vậy

 Nếu bỏ rời được các biên kiến

 Chóng thành thân thanh tịnh của Phật

 Tiếng trống trời mây sấm vang xa

 Tiếng chim hồng ca lăng trong suốt

 Âm nhạc cõi trời ngàn muôn thứ

 Mong nói cớ gì phóng quang minh

 Đạo Sư một tiếng diễn thuyết pháp

 Khiến nguời phá giới dứt lỗi lầm

 Như Lai thuyết pháp lời giọng hay

 Đều là pháp thậm thâm hi hữu

 Trâu trắng lông chúa giữa chặng mày

 Chiếu khắp trăm ngàn những Phật quốc

 Mắt đẹp mầu xanh như nước biếc

 Đỉnh đầu vun cao không thể thấy

 Răng trắng kín bằng đủ bốn mươi

 Dường như báu pha lê trong sáng

 Đều từ vô lượng tịnh nghiệp sanh

 Mong mỏi cớ gì hiện mỉm cười

 Như Lai viên mãn thân công đức

 Thành tựu vô biên sắc vi diệu

 Xuất hiện quang minh đẹp hi hữu

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Đại bi Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

 Rõ thấu chí thích của chúng sanh

 Đã được vô ngại đại biện tài

 Mong mỏi cớ gì hiện mỉm cười

 Như Lai đã đến được bỉ ngạn

 Đầy đũ tam minh và lục thông

 Thị hiện vô biên thanh tịnh quang

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Phật ở thuở xưa vô lượng kiếp

 An trụ những đẳng trì vi diệu

 Biết nhãn sanh biên và tận biên

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 Đờì quá khứ vị lai hiện tại

 Tịnh trí vô ngại bất tư nghị

 Mong nói cớ gì hiện mỉm cười

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn ở trong đại chúng dùng tay kim sắc xoa đầu đồng tử Nguyệt Quang mà nói kệ rằng:

 

 Đồng tử lắng nghe

 Nay ta giao ông

 Pháp Bồ đề này

 Kinh Xuất Hiện Quang

 Ở đời ác sau

 Lúc pháp sắp diệt

 Phải vì chúng sanh

 Khai thị diễn thuyết

 Ta dùng Phật nhãn

 Thấy đời vị lai

 Nơi kinh thậm thâm

 Pháp vi diệu nầy

 Hoặc thích chẳng thích

 Đều biết rõ cả

 Nếu có chúng sanh

 Chí cầu Phật đạo

 Thường niệm chư Phật

 Nên truyền kinh này

 Nếu lòng kính ngưỡng

 Lại thích náo nhiệt

 Mải mê say ngủ

 Chẳng thích kinh nầy

 Dầu được xuất gia

 Trong pháp của Phật

 Với pháp Niết Bàn

 Lại chẳng ưa thích

 Người ngu như vậy

 Uổng ăn của thí

 Nghe pháp hữu vi

 Có nhiều tội lỗi

 Vẫn luyến thế gian

 Chẳng hề kinh sợ

 Người ngu như vậy

 Trí gỉa quở trách

 Dầu mặc pháp phục

 Mà không trí huệ

 Đức Phật đã dạy

 Lời nói chơn thiệt

 Vô trí nếu nghe

 Chẳng tin nhận được

 Người ngu như vậy

 Chớ cùng ở chung

 Nếu người được nghe

 Pháp thù thắng này

 Chẳng sanh vui mừng

 Lòng chẳng vui thích

 Những người như vậy

 Bị ta quở trách

 Dầu được thân người

 Vẫn là luống qua

 Nếu người được nghe

 Pháp thậm thâm nầy

 Sanh được lòng mừng

 Rất ưa rất thích

 Người ấy đã từng

 Gặp gỡ chư Phật

 Quyết định sẽ được

 Vô thượng Bồ đề

 Nếu người ngu si

 Bị ác kiến hại

 Dứt mất huệ mạng

 Xa rời Bồ đề

 Vì thế nên phải

 Bỏ thầy bạn ác

 Thân cận cung kính

 Người trí huệ sáng

 Tất cả thế gian

 Có nhiều tội ác

 Chúng sanh thường sa

 Trong ba ác thú

 Đều từ ngu si

 Mê lầm phát sanh

 Theo mê lưu chuyển

 Chẳng được tự tại

 Vứt bỏ chánh pháp

 Làm những phi pháp

 Thế nên phải rời

 Những người ngu tiểu

 Như người đi xe

 Tự bẻ trục xe

 Đã tạo nghiệp ác

 Sanh vào địa ngục

 Miệng nói lời ác

 Hằng tự tổn hại

 Như cầm búa bén

 Tự chém thân mình

 Chẳng biết các pháp

 Do nhơn duyên tạo

 Theo nghiệp thọ báo

 Không ai cứu được

 Gần gũi minh sư

 Để làm thiện hữu

 Mà bèn tự nói

 Tu tập không vô

 Đã chứng vô vi

 Sanh chấp đoạn diệt

 Như thân khí vỡ

 Tâm cũng mất theo

 Ưa nói những lời

 Trau truốt văn hoa

 Tham đắm nơi đây

 Trọn không ích lợi

 Thà bị rắn độc

 Cắn cho phải chết

 Chớ chọn chẳng làm

 Người đọa ác thú

 Người ngu thuyết pháp

 Làm hư căn lành

 Khiến vô lượng chúng

 Sa đọa địa ngục

 Đại chúng các ông

 Phải nên quan sát

 Đồng tử Nguyệt Quang

 Hiện đứng trước Phật

 Thuở xưa đã từng

 Cúng dường vô lượng

 Hằng hà sa số

 Chư Phật Thế Tôn

 Kiên cố tu hành

 Cầu trí vô thượng

 Lòng ông chẳng luyến

 Tất cả các cõi

 Biết nhãn sanh biên

 Rốt ráo thanh tịnh

 Rời các hí luận

 Không hề nhiễm trước

 Vì muốn lợi ích

 Vô lượng chúng sanh

 Diễn nói kinh điển

 Hiện quang vô lượng

 Người ngu không thể

 Tu học pháp nầy

 Với người tu hành

 Dòm ngó lỗi lầm

 Thế nên phải bỏ

 Những người ngu si

 Chẳng nên gần gũi

 Tu học pháp ấy

 Những người ngu si

 Ưa thích tranh cãi

 Chẳng thể siêng tu

 Hạnh không tranh luận

 Những người như vậy

 Không tâm hiệp ý

 Vì thế chẳng nên

 Cung kính khen ngợi

 Những người ngu si

 Biếng nhác giải đãi

 Thân ngữ ý nghiệp

 Thường làm điều ác

 Không có tịnh giới

 Trí huệ đa văn

 Thường tưởng cảnh dục

 Thích nơi náo nhiệt

 Các ông nên xem

 Người ngu như vậy




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog