Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 58



PHÁP HỘI BỒ TÁT KIẾN THIỆT

THỨ MƯỜI SÁU

 

PHẨM TỰ

 

 Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở tại nước Ca Tỳ La Vệ rừng Ni Cư Đà, cùng với chúng đại Tỳ Kheo ngàn hai trăm năm mươi người câu hội. Tên các Ngài là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, tất cả đều là đại A La Hán các lậu đã hết không còn phiền não, tâm tự tại, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát, như đại long tượng, chỗ làm đã xong, đều bỏ gánh nặng đến được tự lợi hết các kiết sử ở trong chánh giáo tâm được thiện giải, nơi tất cả pháp tâm không chỗ ngại, đến nơi bờ kia, tự được giải thoát và giải thoát quyến thuộc, tự được điều phục và điều phục kiến thuộc, tự được tịch định và tịch định quyến thuộc, tự được độ thoát và độ thoát quyến thuộc, tự đến bờ kia và làm quyến thuộc đến bờ, tự đến lục địa và làm quyến thuộc đến lục địa, tự được an ổn và an ổn quyến thuộc, tự được tịch diệt và tịch diệt quyến thuộc, tự phá phiền não và phá phiền não cho quyến thuộc, tự được Sa Môn và Sa Môn quyến thuộc, tự được dứt ác và dứt ác quyến thuộc, tự được Bà La Môn và Bà La Môn quyến thuộc, tự trừ ác pháp và trừ ác pháp quyến thuộc, tự biết rõ các pháp và làm quyến thuộc biết rõ, tự mình đắc độ và hay đắc độ quyến thuộc, tự đủ các đức và làm quyến thuộc đủ các đức, tự không phiền não và làm không phiền não cho quyến thuộc, tự lìa năm chi và làm quyến thuộc lìa năm chi, tự được lìa chướng và làm quyến thuộc lìa chướng, tự được tịnh ý và làm quyến thuộc được tịnh ý, tự được lục thông và làm quyến thuộc đủ lục thông, tự lìa ghét yêu giải thoát và làm quyến thuộc lìa ghét yêu giải thoát, tự thủ hộ nhất tâm và làm quyến thuộc thủ hộ nhất tâm, tự niệm môn cụ túc và làm quyến thuộc niệm môn cụ túc, tự y tứ y và làm quyến thuộc y tứ y, tự rời lìa các kiến chấp và làm cho quyến thuộc lìa kiến chấp, tự bỏ các hi vọng và làm cho quyến thuộc bỏ hi vọng, tự được tận hành và làm cho quyến thuộc tận hành, tự được sự việc xong và làm cho quyến thuộc sự việc xong, tự tu và làm cho quyến thuộc tự tu, tự không trược niệm và làm cho quyến thuộc không trược niệm, tự đoạn dứt hữu giác và làm cho quyến thuộc đoạn hữu giác, tự nương thân hành và làm cho quyến thuộc nương thân hành, tự được thích bất động và làm cho quyến thuộc thích bất động, tự tâm thiện giải thoát và làm cho quyến thuộc tâm thiện giải thoát, tự huệ thiện giải thoát và làm cho quyến thuộc huệ thiện giải thoát, tự được hiền thánh và làm cho quyến thuộc được hiền thánh, các bực như vậy đượcc rời lìa nhánh lá trù bỏ da thứa, chỉ có tâm thiệt an trú mà an trụ.

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn vào lúc cuối đêm ngồi ngoài đất trống, chúng Tỳ Kheo vây quanh bốn mặt.

 

 Đức Thế Tôn quan sát chúng Tỳ Kheo rồi bảo rằng : "Các ông dò tìm một người có thể đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương".

 

 Huệ Mạng A Nhã Kiều Trần Như đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay tác lễ rồi bạch Phật rằng : "Bạch đức Thế Tôn !

 

 Tôi đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương được chăng ?".

 

 Đức Phật nói : "Thôi, nầy Kiều Trần Như ! Nay ông đầy đủ đức của bực đại sư chẳng nên đến đó".

 

 Các Ngài Huệ Mạng Bà Sáp Mô, Gia Du Đà, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên đều lần lượt bạch Phật rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Tôi có thể đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương".

 

 Đức Phật nói : "Thôi, các ông đều đầy đủ pháp tôn trọng của bực đại sư chẳng nên đến đó giáo hóa".

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên tự nghĩ nay đức Thế Tôn muốn ai đến giáo hóa Tịnh Phạn vương ? Nghĩ xong liền nhập như thiệt tam muội, dùng sức tam muội trang nghiêm tâm mình liền thấy được ý của Phật muốn Huệ Mạng Ca Lưu Đà Di đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương. Ví như trong cửa sổ lầu gác nhiều từng, ánh sáng mặt nhựt chiếu vào vách phía Tây, Đại Mục Kiền Liên thấy tâm của Phật chuyên ở Ca Lưu Đà Di muốn bảo đi giáo hóa phụ vương cũng như vậy.

 

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên xuất định đến chỗ Tôn giả Ca Lưu Đà Di mà nói rằng : "Tâm niệm của Thế Tôn biết Ngài có thể giáo hóa Tịnh Phạn Vương, nay Ngài phát đại dũng mãnh mau đến giáo hóa".

 

 Tôn giả Ca Lưu Đà Di nói : "Thứ dân còn khó giáo hóa huống là quốc vương. Tại sao ? Đại Vương dòng Sát Lợi Quán Đảnh có sức tự tại khó giáo hóa được. Ví như chứa họp củi khô hoặc hai năm ba năm đến ngàn năm, củi tích chứa lâu năm như vậy rất là khô ráo, bấy giờ có người phóng hỏa đốt thành ngọn lửa lớn. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Khối lửa ấy chừng có lớn chăng ?".

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói : "Rất lớn".

 

 Tôn giả Ca Lưu Đà Di nói : "Nếu lại có người đem vô lượng dầu tô tưới vào, khối lửa ấy có thêm thạnh chăng ?".

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói : "Càng thạnh hơn gấp bội".

 

 Tôn giả Ca Lưu Đà Di nói : "Có thể đến gần khối lửa ấy chăng ?".

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói : "Khó gần được".

 

 

 Tôn giả Ca Lưu Đà Di nói : "Đại Vương dòng Sát Lợi Quán Đảnh ấy, khó có thể giáo hóa, khó đến gần cũng như vậy.

 

 Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Ví như ngà của voi cuồng có nên đụng chạm được chăng ?".

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói : "Chẳng nên đụng chạm".

 

 Tôn giả Ca Lưu Đà Di nói : "Đại Vương dòng Sát Lợi Quán Đảnh khó giáo hóa được cũng như vậy".

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói : "Đức Thế Tôn tâm niệm biết Ngài có khả năng đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương vậy".

 

 Tôn giả Ca Lưu Đà Di nói : "Có thiệt đức Thế Tôn nghĩ rằng tôi có khả năng đến giáo hóa Tịnh Phạn Vương chăng ?".

 

 Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói : "Đức Thế Tôn thiệt nghĩ đến Ngài cho rằng Ngài có khả năng giáo hóa được Phụ Vương”.

 

 Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ca Lưu Đà Di rằng: “Ông nên vào thành giáo hóa Phụ Vương. Chỉ có Phật và ông là có thể giáo hóa được Tịnh Phạn Vương thôi.

 

 

 Nầy Ca Lưu Đà Di ! Trong hàng Thanh Văn đệ tử Phật, ông là người có khả năng đệ nhứt về việc giáo hóa các ấp tụ lạc".

 

 Đức Thế Tôn liền nói kệ tụng bảo Ca Lưu Đà Di rằng :

 

 "Lắng nghe Ưu Đà Di

 Ông hay giáo hóa giỏi

 Quyết khiến dòng Thích mừng

 Đến hóa Tối Thắng Vương

 Lúc vua được tỏ ngộ

 Lợi ích hàng Trời Người

 Quyết được đến bờ kia

 Ông nên mau đến hóa

 Tịnh Phạn Vương dòng Thích

 Nay lòng hờn loạn trược

 Niệm huệ chẳng hiện hành

 Dường như té gộp cao

 Luyến tiếc nơi ngôi cao

 Tâm huệ mê mất hết

 hư người buôn mất vốn

 Vói nhớ sanh khổ nhiều

 Như trời mất cung điện

 Luyến nhớ ngũ dục lạc

 Chưa biết Phật chánh pháp

 Buồn rầu rất não loạn

 Tự nghĩ mất thất bửu

 Và bốn cấp nhơn gian

 Nhớ đến ngôi Thánh Vương

 Miệng thốt lời phi pháp

 Có lúc vua buồn loạn

 Chẳng biết mình và người

 Như quỉ đoạt tinh hồn

 Nắm giữ lấy thân người

 Như tại núi Kê La

 Tất cả không chỗ thấy

 Não hận ấy che chướng

 Nên thấy lại chẳng thấy

 Cũng như ngủ mê chết

 Tâm mình chẳng tự biết

 Bị lo hờn mê chướng

 Vua chẳng biết tự mừng

 Như người vợ chết chồng

 Buồn khóc sanh lo khổ

 Nay vua si não loạn

 Buồn thương sanh khổ lớn

 Ông có phương tiện giỏi

 Đến hóa Tịnh Phạn Vương

 Xô ngã tràng tà mạn

 Kiến lập đèn chánh pháp

 Không còn ai hóa được

 Tịnh Phạn Đại Vương ấy

 Chỉ có Ưu Bà Di

 Thuở trước từng đồng hành

 Ưu Bà Di nên biết

 Từng có đại Quốc Vương

 Tên là Tăng Trưởng Thiệt

 Danh tiếng chấn mười phương

 Như pháp làm Quốc Vương

 Tất cả đều quy hóa

 Dùng chánh pháp trị dân

 Vua lãnh tứ thiên hạ

 Trong ấy đầy thành ấp

 Vườn tược bông trái thơm

 Nhiều những chúng hiền thánh

 Không có người tạp ác

 Rừng tốt rất trù mật

 Đất sạch không gai góc

 Rất nhiều thứ tịnh diệu

 Ao hoa trang nghiêm đẹp

 Nhơn dân rất đông giầu

 Bỏ ác ăn ở lành

 Đóng các cửa ác thú

 Quyết lên thiên đạo tốt

 Xưa vua ấy có con

 Từng cúng dường nhiều Phật

 Tu đủ các căn lành

 Tròn đầy những công đức

 Tên là Diệu Kiên Huệ

 Được nhiều người hầu hạ

 Thường thấy lỗi ngũ dục

 Bỏ nhà ưa nhàn tĩnh

 Phụ Vương bảo Vương Tử

 Con nên thọ ngũ dục

 Thể nữ tự vui chơi

 Ở cung điện báu đẹp

 Cha sắm sửa cho con

 Đồ chơi không hề thiếu

 Sao con chẳng thọ vui

 Con nên nói ý con

 Biết các loài lành tốt

 Trong cung báu của con

 Gái báu thường vây quanh

 Cảnh tốt rất đáng vui

 Chư tiên nhơn ở rừng

 Còn bỏ trở về nhà

 Thọ các vui nữ sắc

 Huống con không thiếu thốn

 Chúng thể nữ vây quanh

 Vua quan đều tùy tùng

 Cung điện như thiên cung

 Nên thọ ngũ dục lạc

 Cung nữ rất đẹp xinh

 Chẳng khác gì thiên nữ

 Múa ca đánh nhạc hay

 Có thể tùy ý vui

 Mắt như lá ưu ba

 Môi đỏ như ngậm son

 Mặt tròn mày rộng đen

 Trán bằng cổ cao ngấn

 Tay thẳng đầy tròn trịa

 Đẹp như vòi tượng vương

 Bàn tay màu hoa sen

 Ngón tròn vót mềm đẹp

 Lưỡi mỏng rộng đỏ hồng

 Lời hay như cam lộ

 Răng trắng trong kín đều

 Chuỗi ngọc y phục báu

 Rún sâu chẳng hiện bụng

 Lưng như chày kim cương

 Vế đùi mêm tròn thẳng

 Không khác đùi lộc vương

 Bước đi như nga vương

 Thảy đều nhìn ngó con

 Tuổi trai tráng đáng yêu

 Có thể nối dòng dõi

 Con và các người đẹp

 Như hoa xuân nở tốt

 Trai tráng tuổi chưa gìa

 Phải mau thọ dục lạc

 Kiên Huệ bạch Phụ Vương

 Cha nói phi chánh lý

 Nếu có lời đúng pháp

 Truyền bảo chẳng dám trái

 Nay cha nghe con nói

 Lời lành và chơn thiệt

 Nhẫn đến trong giấc mơ

 Chẳng có ý tưởng dục

 Nay lời nói của cha

 Người trí chẳng bằng lòng

 Kẻ ngu thích dục lạc

 Người sáng thì thường nhàm

 Sao có người mắt sáng

 Khen người mù dẫn đường

 Đâu có người giải thoát

 Mà lại ưa ngục tù

 Đâu có người an lạc

 Lại khen tặng sự khổ

 Ý con xem Phụ Vương

 Như kẻ mù chìm tù

 Như mộng thọ ngũ dục

 Lại bị dục nhận chìm

 Phụ Vương như đui mù

 Mắt con sáng thấy rõ

 Cha bị dục cuốn trôi

 Nay con rất nhàm chán

 Dục như chén thuốc độc

 Cũng như đầu rắn độc

 Như mũi dao gươm bén

 Cũng như khối lửa lớn

 Lúc vua quan khuyên bảo

 Kiên Huệ đều chẳng nghe

 Bỏ cha và quốc độ

 Rời dục mà xuất gia

 Như rắn lột da cũ

 Cũng như bỏ mũi dãi

 Rời xa những lỗi ác

 Tuyệt hi vọng xuất gia

 Lúc Kiên Huệ bỏ tục

 Có một quan chức trẻ

 Người ấy tên Nguyệt Thí

 Bỏ nhà theo Kiên Huệ

 Đồng tử xuất gia rồi

 Và cùng quan trẻ kia

 Thành tựu bốn phạm trụ

 Đầy đủ ngũ thần thông

 Thấy rõ lỗi ngũ dục

 Siêu tuyệt nơi dục giới

 Chuyển chánh diệu pháp luân

 Sanh chẳng lên Phạm Thiên

 Đồng tử xuất gia rồi

 Phụ Vương lòng ghét giận

 Nguyệt Thí đến chỗ vua

 Giáo hóa cho vua mừng

 Ưu Đà Di nên biết

 Thuở xưa kia Kiên Huệ

 Rời xa nơi ngũ dục

 Nay chính là thân ta

 Ưu Đà Di nên biết

 Vua Tăng Thiệt xưa kia

 Đâu phải ai xa lạ

 Là Tịnh Phạn Vương vậy

 Ưu Đà Di nên biết

 Người theo ta xuất gia

 Nguyệt Thí là thân ông

 Đã từng hóa Tăng Thiệt

 Thế nên Ưu Đà Di

 Nay nên hóa Phụ Vương

 Quyết có lợi ích lớn

 Vì xưa đã giáo hóa".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nghe lời phán dạy của Phật liền nín lặng lãnh nhận.

 

 Lúc đó Ưu Đà Di qua đêm đến sáng vào giờ khất thực đắp y mang bát đi vào thành Ca Tỳ La. Có hơn ngàn người dòng thích Ca tập họp tại vương môn đều có chỗ cần.

 

 Vua Tịnh Phạn Vương nghe Phật Như Lai đến thành Ca Tỳ La tại rừng Ni Cư, Vương sanh lòng ghét hờn rằng : Đức con ấy xuất gia chối bỏ chủng tộc giàu sang ta. Nếu nó ở nhà sẽ nối ngôi Kim Luân cai trị tứ thiên hạ thống lãnh đúng pháp nhơn dân không nghịch mạng, đầy đủ bảy báu : luân bửu, tượng bửu, mã bửu, ma ni bửu, nữ bửu, chủ tạng thần bửu, đạo sư bửu, ngàn con trai dũng kiện, dung nhan xinh đẹp có khả năng dẹp cường địch bảo hộ tứ thiên hạ, chẳng dùng vũ khí ngự trị quốc độ, chỉ trị chánh đúng pháp tự nhiên thái bình. Ta được làm Luân Vương tự tại khoái lạc, họ phải tôn trọng cúng dường cho ta, vì đức con ấy xuất gia nên những sự đáng lẽ được ấy mà đều mất cả.

 

 Tịnh Phạn Vương nghĩ như vậy rồi truyền cho dòng Thích : Tất cả mọi người chẳng được đến chỗ con ta ở kính tin nghe pháp, nếu có ai phạm sẽ chém đầu.

 

 Bấy giờ có người dòng Thích tên Hỉ Diện chẳng ở trong chúng chẳng nghe lệnh Vương, thấy Tôn giả Ưu Đà Di liền đến cúi đầu thưa : "Tôn giả mới đến, được bình an chăng ? Đức Thế Tôn an vui ít bịnh ít não đi đứng nhanh nhẹ đi đường chẳng mệt ăn uống chẳng thiếu chăng ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di báo Hỉ Diện rằng : "Đức Như Lai an lạc ít bịnh ít não đi đứng nhanh nhẹ đi đường chẳng mệt uống ăn chẳng thiếu".

 

 Có người dòng Thích tên Thiện Giác thấy Hỉ Diện cùng Tôn giả Ưu Đà Di tại chỗ vắng nói chuyện, cũng đến thưa rằng : "Đại Đức từ xa đến được an lành chăng ? Đức Thế Tôn đi đứng an lạc ít bịnh ít não đi đường chẳng mệt ăn uống chẳng thiếu chăng ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di báo Thiện Giác rằng : "Đức Như Lai thánh ngự an lạc ít bịnh ít não đi đường chẳng mệt ăn uống chẳng thiếu".

 

 Lại có hai người dòng Thích tên Vô Ưu và Ly Ưu thấy Hỉ Diện và Thiện Giác cùng Ưu Đà Di ở chỗ vắng nói chuyện, hai người cũng đến chào đón hỏi thăm như trên rồi tiếp hỏi : "Bạch Đại Đức ! Đức Như Lai ở trên đường đi cớ sao không thiếu ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di báo với Vô Ưu và Ly Ưu rằng : "Do Tứ Thiên Vương, Thiên Đế Thích, Phạm Thiên Vương và chư Thiên thường đến cúng dường nên chẳng thiếu vậy".

 

 Các người dòng Thích ấy đồng thưa rằng : "Bạch Đại Đức Ưu Đà Di ! Chúng tôi đều muốn đến chỗ đức Phật Thế Tôn cúng dường nghe pháp mà sợ chẳng được. Vì Tịnh Phạn Vương có sắc lịnh nghiêm cấm tất cả người dòng Thích. Nếu ai vi phạm sẽ bị chém đầu".

 Tôn giả Ưu Đà Di nghe nói bèn nghĩ rằng đây là Phụ Vương rất oán hận, tôi phải dùng phương tiện để đến chỗ vương.

 

 Tôn giả Ưu Đà Di liền nhập như thiệt tam muội, dùng sức tam muội trang nghiêm tâm mình, lại dùng thần lực bay cao bằng bảy cây đa la, ngồi kiết già trên hư không rồi bay đến chỗ Tịnh Phạn Vương. Nhà vua ngó thấy liền rời chỗ ngồi chắp tay cung kính hướng về Ưu Đà Di mà nói kệ rằng :

 

 "Đại Sư ca sa từ đâu đến

 

 Thành tựu oai nghi khó được thấy

 

 Nếu có cần gì xin nói mau

 

 Nay tôi thành tâm quyết phụng cấp".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp Vương rằng :

 

 "Tôi là con của con Đại Vương

 

 Đại Vương là Tổ phụ của tôi

 

 Tôi vì Như Lai đi khất thực

 

 Được đồ ăn sẽ về dâng Phật

 

 Hôm nay Đại Vương được lợi lành

 

 Con vua là đấng Tối Tôn Thượng

 

 Oai đức quang minh chiếu mười phương

 Như trăng rằm mặt nhựt giữa trưa

 

 Như mặt nhựt không gian chẳng mây mù

 

 Ánh sánh chói chang đều chiếu khắp

 

 Đấng Tối Thắng con trai Đại Vương

 

 Oai đức danh tiếng vang mười phương

 

 Dường trăng đêm thu lúc mới mọc

 

 Che lấp lửa đóm khắp soi sáng

 

 Đấng Tối Thắng con trai Đại Vương

 

 Hàng phục ngoại đạo riêng chói sáng

 

 Như giữa trưa mặt nhựt chói chang

 

 Tinh tú bị lấn nên chẳng hiện

 

 Đấng Tối Thắng con trai Đại Vương

 

 Hàng phục ngoại đạo tự mình sáng

 

 Như giữa trưa mặt nhựt lấn trăng

 

 Làm mặt nguyệt mất sáng chẳng hiện

 

 Con trai Đại Vương phục ngoại đạo

 

 Như mặt nhựt sáng làm trăng ẩn

 

 Như cầm thú nghe sư tử rống

 

 Thủy lục không hành tan về hang

 

 Sợ chạy đào tẩu mê phương hướng

 

 Vì tiếng sư tử khó chịu đựng

 

 Đại Thánh Như Lai lúc gầm rống

 

 Tà ngoại được nghe tiếng vô ngã

 

 Dầu kẻ vô tri đến hữu đảnh

 

 Nghe tiếng vô ngã thảy đều sợ

 

 Trong Nhơn Thiên kẻ ngu si mù

 

 Như Lai mắt sáng chỉ đường họ

 

 Vì họ làm đèn trừ tối tăm

 

 Phát khởi trí sáng tối vô thượng

 

 Chánh tà bình đẳng chẳng bình đẳng

 

 Dạy bảo thế gian đạo phi đạo

 

 Vì người lạc đường chỉ đúng đường

 

 Từ bùn dục nhiễm vớt ra khỏi

 

 Như mây bao phủ ao khô cạn

 

 Mưa tuôn đầy tràn ruộng ướt đều

 

 Con trai Đại Vương đấng Tối Thắng

 

 Gầy dựng mưa pháp nhuận Trời Người

 

 Như nước thấm đất và núi sông

 

 Cùng trăm giống cỏ rừng cây cối

 

 Cỏ thuốc cây cành và dây leo

 

 Hoa thơm đua nở khắp núi đẹp

 

 Đấng đủ thập lực tứ vô úy

 

 Đầy đủ mười tám pháp bất cộng

 

 Trái Nhứt thiết trí hoa trang nghiêm

 

 Con trai Đại Vương thân vi diệu

 

 Như núi Tu Di ở giữa biển

 

 Nghiêm tốt bất động trời thích ở

 

 Con trai Đại Vương đấng Thiện Thệ

 

 Trong biển Sa Môn tối đệ nhứt

 

 Đao Lợi Thiên Chúa Xá Chỉ Phu

 

 Trong chúng chư Thiên kỳ diệu nhứt

 

 Con trai Đại Vương đấng Thế Tôn

 

 Trong chúng Sa Môn kỳ diệu nhứt

 

 Tuyên nói bí áo pháp thậm thâm

 

 Dùng điện đại bi chiếu khắp chỗ

 

 Như Lai Long Vương tuôn mưa pháp

 

 Niệm xứ nước ao chảy chậm xuống

 

 Oai đức trì giới như mặt nhựt

 

 Dùng sức tam muội trừ mê tối

 

 Sáng trí huệ dứt phiền não ái

 

 Mặt nhựt Đại Thánh chiếu thế gian

 

 Đầy đủ niệm xứ báu ma ni

 

 Thuyền bè giới định qua bỉ ngạn

 

 Giác chi gươm báu thiền tràn đầy

 

 Lại cầu vô ưu vào biển Phật

 

 Rễ giới thanh tịnh chắc khó động

 

 Tam muội lá cây cành niệm xứ

 

 Thất giác hoa không thân cây cứng

 

 Vô ngã kiên cố thành cây Phật

 

 Đi trong rừng giới người đại lực

 

 Tam muội điều phục nương núi đức

 

 Ba môn giải thoát làm cảnh giới

 

 Phật thập trí lực là Vương Tử

 

 Chánh kiến vô trước đấng Thế Tôn

 

 Hàng phục cường địch đại Pháp Vương

 

 Khủng bố tất cả các ngoại đạo

 

 Con trai Đại Vương đấng vô úy

 

 Tịnh giới đức tạng diệu trang nghiêm

 

 Thiền định tịch diệt y phục báu

 

 Thế Tôn đủ trí cảnh giải thoát

 

 Bố thí tài vật như trưởng giả

 

 Xa lìa các ác họp những lành

 

 Gốc thiện huệ diệt các phiền não

 

 Trí huệ thí phát cho Trời Người

 

 Con trai Đại Vương đấng chói sáng

 

 Mây giới trời huệ dùng làm chớp

 

 Tám sợi tơ mưa hay nhuần thấm

 

 Thế Tôn giúp ích mầm mạ tốt

 

 Vương Tử dường như rồng lớn mưa".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Thắng Sĩ đến đây an lạc chăng

 

 Đến như uống ăn không thiếu thốn

 

 Thân không mỏi mệt giường nệm chiếu

 

 Như hoa bờ sông chẳng héo úa ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Cảnh giới thiền định đủ thần lực

 

 Thân tâm an lạc khắp đầy đủ

 

 Thế Tôn tinh thần trụ tịch tĩnh

 

 Dường như sen vàng chẳng khô khan".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Xưa dùng cờ trống tự cảnh tỉnh

 

 Âm nhạc tranh sắc cùng tiêu sáo

 

 Kỹ nữ xinh đẹp để tự vui

 

 Nay ở rừng vắng chẳng khổ ư ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Thiền định tịch tĩnh làm cảnh giới

 

 Khéo hay tu học tam muội vui

 

 Đi đứng ngồi nằm tu pháp lành

 

 Tâm thường mừng vui không khổ não".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Giường báu vô giá thường nằm an

 

 Lúc ngủ gái đẹp luôn hầu cạnh

 

 Giáp vòng trần thiết nhiều đèn sáng

 

 Vậy sao nằm tối chẳng buồn bực ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Lúc ngủ Thế Tôn nằm giường thánh

 

 Nệm êm là từ gối mềm bi

 

 Phật an trụ hỉ tâm thường vui

 

 Bỏ ba cõi khổ chẳng buồn bực".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Hàng Thích chủng mạnh thường vây quanh

 

 Học rộng thông thái dùng làm bạn

 

 Lớn khôn trong cung điện nguy nga

 

 Vậy sao ngày nay thích rừng vắng ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Như pháp sanh con luôn kề cận

 

 Đồng tu chỉ định ở tại bên

 

 Lòng ưa rừng vắng tu thiền định

 

 Đạo sư vô úy thích nuí rừng".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Đồng tử ngày xưa lúc ở cung

 

 Dùng ao tắm trời để tắm gội

 

 Cũng dùng dầu thơm thoa thân mình

 

 Nay ở trong rừng ai tắm cho ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Nước ao các pháp bờ giới lành

 

 Thế Tôn tự tắm và tắm người

 

 Mình cùng các con nổi chẳng ướt

 

 Tự độ đã xong độ quần sanh".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Ngày xưa hương thơm thường ướp thân

 

 Chỉ vàng châu ngọc để trang nghiêm

 

 Thường mặc thiên tử báu

 

 Nay ở trong rừng trang sức gì ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Tràng hoa công đức hương ướp giới

 

 Anh lạc thiền định y tàm quí

 

 Trí huệ giải thoát tự trang nghiêm

 

 Ánh sáng oai đức chiếu khắp rừng".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ hỏi rằng :

 

 "Xưa dùng dao gươm cung tên mâu

 

 Dũng sĩ cầm mang luôn phòng vệ

 

 Cũng dùng lọng báu thường chen trên

 

 Nay ở rừng vắng ai hộ vệ ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 

 "Từ bi nhẫn nhục tự phòng vệ

 

 Đệ tử Thanh Văn quyến thuộc mạnh

 

 Dùng công đức lành quyết không sợ

 

 Thập lực hùng mãnh tứ vô úy".

 

 Tịnh Phạn Vương nói kệ khen rằng :

 

 "Lành thay khéo nói đức con tôi

 

 Lâu tu pháp lành chẳng thối chuyển

 

 Ngài lấy bát xong mang bát về

 

 Tôi cũng đi đến chỗ Thế Tôn".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di lại thưa vua rằng : "Tâu Đại Vương ! Đức Bà Già Bà là Thầy đại chúng hay ngự phục chúng sanh, là đại tiên nhơn hay khéo an trụ, trong chúng Sa Môn là vua Sa Môn, ánh sánh chiếu khắp. Như trăng đêm rằm muôn sao vây quanh ánh trăng rất sáng chiếu khắp nơi, đức Thế Tôn cũng vậy, ở trong chúng Sa Môn ánh sáng chiếu khắp. Như trăng mùa thu ở trong hư không chẳng có mây che, đức Bà Già Bà cũng vậy, ở trong đại chúng ánh sáng chiếu khắp. Như Thiên Đế Thích là vua chư Thiên ở Thiện pháp đường, trong hàng chư Thiên ánh sáng rực rỡ, đức Bà Già Bà ở trong đại chúng ánh sáng rực rờ cũng như vậy. Như Dạ Ma Thiên Vương, Đâu Xuất Đà Thiên Vương, Hóa Lạc Thiên Vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương ở trong chúng chư Thiên ánh sáng rực rỡ oai đức độc tôn, đấng Bà Già Bà ở trong đại chúng oai đức độc tôn cũng như vậy. Như Đại Phạm Thiên Vương chúa thế giới Ta Bà trăm ức chúng Phạm Thiên vây quanh ánh sáng rực rỡ oai đức độc tôn, đấng Bà Già Bà ở trong chúng Sa Môn oai đức hiển hích độc tôn cũng vậy".

 

 Nghe nói đạo đức của đấng Bà Già Bà xong, Tịnh Phạn Vương tự nghĩ rằng Sa Môn nầy là đệ tử Thanh văn còn có đại thần thông đại oai đức như vậy, huống là đức Như Lai. Vua lại nhớ lúc Thái Tử vừa sanh thì cả đại địa chấn động sáu cách mười tám tướng : động, biến động, đẳng biến động, dũng, biến dũng, đẳng biến dũng, khởi, biến khởi, đẳng biến khởi, chấn, biến chấn, đẳng biến chấn, hống, biến hống, đẳng biến hống, kích, biến kích, đẳng biến kích, phóng ánh sánh lớn, không ai đỡ dìu mà tự đi bảy bước, trên không có hai đường nước chảy xuống tắm gội thân thể, tự nhiên có thánh tọa bằng chơn kim, trong hư không hóa thành lọng trời, chư Thiên lễ bái, từ đó đến ngày chưa xuất gia chẳng bị ngũ dục mê hoặc, phàm có làm điều gì thì quyết định chẳng bỏ dở, nói gì thì làm được nấy, trong tất cả thời gian kiên cố đại lực, chẳng nói dối, chẳng trái tín hành, từng có lời rằng tôi thành Vô thượng Bồ đề tự độ mình rồi sẽ độ Phụ Vương.

 

 Tịnh Phạn Vương nhớ Phật lúc còn là Thái Tử Bồ Tát đã có bốn thệ nguyện nên vua nói kệ rằng :

 

 "Nếu có người sơ sanh

 

 Trí sáng nói chẳng luống

 

 Lời cùng việc chẳng khác

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Nếu người lúc sơ sanh

 

 Đối cha nói thành Phật

 

 Quyết làm bực Thế Tôn

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Nếu có người chẳng tiếc

 

 Khối báu bằng núi Tuyết

 Rời lìa những tham lẫn

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Nếu người trong giấc mộng

 

 Chẳng nói lời hư vọng

 

 Như lời mà tu hành

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Lời nói như gươm dao

 

 Chẳng não cũng khiến giận

 

 Người rời sự giận hờn

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Không có ai khi được

 

 Tham sân cũng chẳng nhiễm

 

 Vua đầy đủ trí huệ

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Tất cả ngù dục lạc

 

 Và cùng những sang giàu

 

 Đều không cột trói được

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Các thứ sự hi hữu

 

 Và cùng những vật tốt

 

 Không làm động lòng được

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Dùng những lời ngọt ngon

 

 Thông minh lời khéo nói

 

 Không làm mê hoặc được

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Dùng những lời thuận nghĩa

 

 Những câu muốn quyết định

 

 Cũng chẳng buộc ràng đưọc

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Quân lực bố trí mạnh

 

 Cùng nhiều cách canh phòng

 

 Vẫn vượt khỏi hoàng thành

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Rời bỏ ngũ dục lạc

 

 Để cầu hạnh cam lộ

 

 Hi vọng được Bồ đề

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Sáu năm tu khổ hạnh

 

 Dũng mãnh không ai bằng

 

 Cầu được thắng Bồ đề

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Sáu năm ăn thô ít

 

 Cầu được thắng Bồ đề

 

 Lợi an các thế gian

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Sáu năm bị ma nhiễu

 

 Nối nhau tìm lỗi dở

 

 Vẫn chẳng gặp được dịp

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Rời xa lỗi ngũ dục

 

 Chẳng cầu vật người khác

 

 Thường lợi ích thế gian

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Chẳng nghe pháp nơi người

 

 Tự nhiên thành Bồ đề

 

 Tịch định khó biết được

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Phạm Vương đến khuyến thỉnh

 

 Cần cầu Phật Thế Tôn

 

 Như thỉnh mà diễn thuyết

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Vì thương xót nhớ tôi

 

 Nên đến vườn Ni Câu

 

 Vì độ các Thích chủng

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Như Lai tự độ rồi

 

 Độ tôi khỏi biển khổ

 

 Ghi nhớ thệ nguyện xưa

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Nay là lúc được lợi

 

 Biết Phật Nhứt thiết trí

 

 Vì thương xót đến tôi

 

 Người trí ai chẳng tin

 

 Nay tôi sẽ đến đó

 

 Thấy thân đấng Đạo Sư

 

 Lúc nghĩ suy như vậy

 

 Biết mình là Nhơn Vương".

 

 Tịnh Phạn Vương suy gẫm xong nói với Tôn giả Ưu Đà Di : "Thưa Đại Đức ! Ngài đến đây còn cần thứ gì ?".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di nói kệ đáp rằng :

 "Vốn vì lợi ích cho Đại Vương

 

 Tôi dùng thần thông bay đến đây

 

 Nếu nơi thập lực một niệm tin

 

 Nam nữ đều được đến đường lành

 

 Thập lực công đức vô biên tế

 

 Thế Tôn vì Thích chủng mà đến

 

 Sự đáng mừng vui nay mới tới

 

 Nhơn chúa phải nên phát lòng tin

 

 Đại Vương danh tiếng quyết thêm lớn

 

 Đầy khắp cõi tam thiên Đại Thiên

 

 Con vua đã là kho của vua

 

 Đầy đủ thập lực tâm từ bi

 

 Du hành mười phương tâm vô ngại

 

 Như sen ở nước chẳng dính nước

 

 Tự độ tứ lưu các cõi rồi

 

 Cũng độ Trời người bốn sông dữ

 

 An trí trên bờ đất vô úy

 

 Đại Vương phải nên tin Đạo Sư

 

 Nhổ khỏi tứ lưu ba tên độc

 

 Cũng làm quần sanh thắng y sư

 

 Trong chúng y sư tôn thượng nhứt

 

 Đại Vương phải nên kính tin sâu

 

 Cũng hay hàng phục các quân ma

 

 Ma Vương quyến thuộc bè đảng ác

 

 Chứng được tịch diệt đại Bồ đề

 

 Đại Vương phải nên kính tin sâu

 

 Nhơn Vương Thiên Vương đều khuyến thỉnh

 

 Vì độ chúng sanh nói diệu pháp

 

 Diễn bày vô thượng thuốc cam lộ

 

 Là đấng Pháp Vương phải nên tin

 

 Che lấp tất cả chúng ngoại đạo

 

 Chuyển diệu pháp luân quá cân lường

 

 Hóa độ vô lượng ức chúng sanh

 

 Đại hùng Nhơn Vương phải nên tin

 

 Vô minh phủ dầy trong hắc ám

 

 Mắt mình trong sáng sáng mắt người

 

 Thuyết pháp trừ được những mù lòa

 

 Đại hùng Nhơn Vương phải nên tin

 

 Lão bịnh tử khổ bức bách người

 

 Nói pháp trừ được lão bịnh tử

 

 Khiến chúng thế gian lên đường lành

 

 Đại hùng Nhơn Vương phải nên tin

 

 Ba lửa đốt cháy chúng thế gian

 

 Như đất cháy hồng dùng nước tắt

 

 Nói Bát chánh đạo Phật vì người

 

 Đại hùng Nhơn Vương phải nên tin

 

 Dứt hết ba uế trừ các ác

 

 Hay rời thế gian ba cấu trược

 

 Du hành mười phương rất kỳ diệu

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Như cha yêu con thương thế gian

 

 Thập lực đại từ tâm nhuần khắp

 

 Phát khởi đại bi độ chúng sanh

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Khó điều điều được đức Thế Tôn

 

 Người đáng được độ nay đều độ

 

 Hay dứt lửa phừng các phiền não

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Chúng sanh đọa trong biển ba cõi

 

 Phật như thuyền tầu hay tế độ

 

 Thập lực đại bi cứu thế gian

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Thân đoan chánh vô lượng công đức

 

 Đại bi du hành hóa thế gian

 

 Khiến tâm trược lâu được thanh tịnh

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Như nhọc ma ni lắng nước trong

 

 Đi trong đời làm sạch chúng sanh

 

 Trừ dứt bầy mê đua loạn trược

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Như châu ma ni tánh thanh tịnh

 

 Hay khiến người trí lòng vui đẹp

 

 Thế Tôn rời ác tâm sáng sạch

 

 Khiến những người trí hâm mộ thích

 

 Nơi đức Thế Tôn khởi tín tâm

 

 Hay khiến Trời Người lìa gánh khổ

 

 Bỏ báu sanh tử được tịnh diệt

 

 Dũng mãnh Đại Vương phải nên tin

 

 Trong khối công đức nói ít phần

 

 Như giữa không gian một dấu chim

 

 Bờ Phật công đức tôi chẳng biết

 

 Đại Vương phải nên kính tin sâu".

 

 Tịnh Phạn Vương nghe Tôn giả Ưu Đà Di khéo nói công đức được tu lúc đức Phật còn làm Bồ Tát, vua liền tự nhớ bổn thệ của Như Lai : Tôi được độ rồi sẽ độ Phụ Vương. Vì nhớ như vậy nên vua rất kính tin và nói với Tôn giả Ưu Đà Di rằng : "Nầy Tỳ Kheo ! Nay Ngài chính là con của con trai tôi, Ngài nên ăn rồi mau về chỗ đức Phật đem cơm dưng lên, nay tôi cũng phải đến ra mắt đức Thế Tôn".

 

 Tôn giả Ưu Đà Di biết lòng vua đã kính tin, ăn cơm xong, Tôn giả bưng cơm canh về dưng lên đức Phật.

 

 Đức Thế Tôn bảo các Tỳ Kheo rằng : "Ưu Đà Di giáo hóa Tịnh Phạn Vương được chánh tín. Hôm nay chư Thiên và người đời được lợi ích rất lớn".

 

 Đức Thế Tôn khen ngợi Tôn giả Ưu Đà Di rằng : "Lành thay ! Lành thay ! Nay ông được phước đức lớn, vì đã làm cho Tịnh Phạn Vương kính tin vậy".

 

 Đức Thế Tôn lại bảo chư Tỳ Kheo rằng : "Ưu Đà Di giáo hóa Tịnh Phạn vương được công đức, nếu là có sắc thì hằng sa thế giới mười phương chẳng dung thọ được, vì khối công đức ấy rộng lớn vô lượng vậy".




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog