Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 75



PHÁP HỘI HỘ QUỐC BỒ TÁT

THỨ MƯỜI TÁM

 

 Như vậy tôi nghe một lúc đức Bà Già Bà ở tại thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật, cùng câu hội với hai trăm năm mươi chúng đại Tỳ Kheo.

 

 Năm ngàn Đại Bồ Tát, tất cả đều được biện tài vô ngại thành tựu đại trí nhẫn hàng phục ma oán gần Phật trí, bực nhứt sanh bổ xứ đều được sức tổng trì vô biên biện tài vô sở uý thần thông tự tại, nhẫn đến đều đầy đủ tất cả công đức. Danh hiệu của các Ngài là: Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Minh Bồ Tát, Phổ Quang Bồ Tát, Viên Quang Bồ Tát, Thượng Ý Bồ Tát, Vô Biên Ý Bồ Tát, Quảng Ý Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Trì Địa Bồ Tát, Trì Thế Bồ Tát, Ích Ý Bồ Tát, Trú Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi và sáu mươi bất tư nghì Bồ Tát, Hiền Hộ và mười sáu Bồ Tát. Năm ngàn đại Bồ Tát nầy đồng cầu hội.

 

 Lại có chúa cõi Ta Bà Đại Phạm Thiên Vương và Thích Đế Hoàn Nhơn cùng hộ thế Tứ Thiên Vương, Công Đức Thiên Tử, Chánh Ý Thiên Tử, tất cả Thiên Vương, tất cả Long Vương, tất cả Khẩn Na La Vương, tất cả Càn Thát Bà Vương, tất cả Dạ Xoa Vương, tất cả A Tu La Vương, tất cả Ca Lâu La Vương, các Vương ấy đều cùng trăm ngàn quyến thuộc đều đến hội họp.

 

 Bấy giờ đức Thế Tôn ngồi tòa sư tử báu công đức tạng. Đức Phật ở giữa đại chúng thân sắc hiển hiện như núi Tu Di, chiếu khắp thế gian nhưThiên Vương, oai đức gồm nhiếp như Thiên Đế Thích, bảy phần Bồ Đề đều đầy đủ như Chuyển Luân Vương, tuyên nói pháp không vô tướng vô nguyện không e sợ như sư tử chúa, ánh sáng nơi thân chói rực như khối lửa lớn, lại phóng tia sáng như bửu châu ma ni vô thượng tối thắng cõi trời chiếu khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới, dùng phạm âm to lớn khiến các chúng sanh đều hoan hỉ, nơi tất cả pháp hiểu rõ thâm nghĩa, ở giữa đại chúng vì họ thuyết pháp trước giữa sau đều lành, nghĩa ấy vi diệu đầy đủ không tạp, phạm hạnh thanh tịnh.

 

 Lúc ấy có đại Bồ Tát tên Hỉ Vương ngồi trong đại chúng thấy đức Như Lai ngồi tòa sư tử ở giữa đại chúng phóng ánh sáng to lớn như trăm ngàn mặt nhựt chiếu khắp tất cả khiến ánh sáng cõi người cõi trời bị che luốt chẳng hiện. Đại Bồ Tát Hỉ Vương thấy sự ấy rồi vui mừng hớn hở tràn đầy thân tâm chẳng tự xiết, Ngài liền đứng dậy chắp tay hướng Phật nói kệ tán thán :

 

 “Thế Tôn che trùm đại chúng nầy

 Thiên Long Tu La Càn Thát Bà

 Bồ Tát Thanh Văn không oai đức

 Chiếu khắp tất cả như núi vàng

 Dường núi Tu Di cùng chư Thiên

 Đứng giữa đại hải Phật cũng vậy

 Thế Tôn đ ứng giữa biển từ bi

 Phóng trăm ngàn thứ ánh sáng lớn

 Trụ nơi phạm hạnh như Phạm Vương

 Quang minh oai đức hơn chư Thiên

 An trụ trong thiền định giải thoát

 Chiếu sáng thế gian hơn chúng sanh

 Dường Thiên Đế Thích tại chư Thiên

 Thân sắc quang minh hơn tất cả

 Phật hơn thế gian cũng như vậy

 Các tướng trang nghiêm đủ công đức

 Như Chuyển Luân Vương trị bốn cõi

 Soi sáng thế gian lúc thuyết pháp

 Khiến các chúng sanh vào thánh đạo

 Thế Tôn hiển hiện tâm từ bi

 Ánh sáng chiếu luốt lửa ma ni

 Như mặt nhựt giữa hư không tạnh

 Sánh ngàn mặt nhựt Phật vẫn hơn

 Phật nhựt chiếu khắp các thế gian

 Như lúc đêm trong trăng tròn sáng

 Phật quang thanh tịnh cũng như vậy

 Gương mặt tròn đầy như mặt nguyệt

 Che mờ tất cả sáng Trời Người

 Như khối lửa lớn trên đảnh núi

 Thanh tịnh soi sáng vô biên cõi

 Hay diệt tất cả tối vô minh

 Thế Tôn trí huệ sáng chiếu khắp

 Tiếng Phật đầy khắp trong sơn cốc

 Hay phục ngoại đạo như sư tử

 Tuyên nói vô ngã không vô nguyện

 Khiến các ngoại đạo đều kinh sợ

 Oai quang dường như ma ni vương

 Sáng che tất cả ngọc ma ni

 Thân thể Như Lai màu hoàng kim

 Chiếu khắp thế gian hơn tất cả

 Thế gian không ai ngang bằng Phật

 Huống là có người hơn Phật được

 Những phước trí tinh tiến phương tiện

 Tất cả công đức không ai hơn

 Đấng trượng phu cứu hộ thế gian

 Nay tôi nhìn thấy biển công đức

 Nay tôi hoan hỉ sanh tôn trọng

 Thế nên đảnh lễ chưn Thế Tôn

 Tôi đã ca ngợi đấng Điều Ngự

 Đèn sáng thế gian công đức tròn

 Nay tôi có bao nhiêu công đức

 Khiến các chúng sanh chứng Chánh Giác”.

 

 Hỉ Vương đại Bồ Tát nói kệ tán thán đức Phật xong, Ngài chắp tay chăm nhìn thân đức Phật mắt chẳng tạm rời, Ngài quan sát pháp giới thậm thâm khó hiểu khó làm khó vào, là pháp vi tế tịch tịnh khó biết chẳng thể nghĩ bàn chẳng thể suy lường, là cảnh giới chư Phật, trong nội tâm quan sát cùng khắp pháp giới, quan sát trí Như Lai cảnh giới của Thế Tôn không ai ngang bằng. Quan sát như thế rồi, Ngài nhập vào trong phương tiện hạnh Như Lai trí bất tư nghị cảnh, chư Phật Thế Tôn không hề nhiễm trước dường như hư không. Lúc Ngài quan sát như vậy, Ngài chứng nhập chơn như pháp tánh, tất cả các pháp tánh đều như vậy, sanh đức tin như vậy, ưa thích pháp môn vô ngại giải thoát của chư Phật Như Lai, biết bốn đức thường lạc ngã tịnh, biết thân của Phật, suy gẫm thân Như Lai khắp tất cả cõi hiện ra trước chúng sanh, công đức của Phật dầu trong vô lượng kiếp nói cũng chẳng hết.

 

 Hỉ Vương đại Bồ Tát suy gẫm như vậy rồi ngồi yên lặng quan sát pháp giới.

 

 Bấy giờ có một Huệ Mạng Tỳ Kheo Bồ Tát tên Hộ Quốc ở tại thành Xá Bà Đề vào hạ an cư quá ba tháng xong, cầm mang y bát cùng các sơ học Tỳ Kheo trẻ du hành các nước lần đến thành Vương Xá núi Kỳ Xà Quật, đến trước Đức Thế Tôn đảnh lễ chưn Phật hữu nhiễu ba vòng đứng qua một phía chắp tay hướng lên đức Phật mà nói kệ tán thán rằng :

 

 “Kính lễ đấng Tối Thắng phóng quang

 Kính lễ đấng tâm như hư không

 Kính lễ hay quyết nghi cho người

 Kính lễ đấng siêu việt tam giới

 Trong vô số cõi nước mười phương

 Nghe khen sự công đức của Phật

 Nước ấy có bao nhiêu Bồ Tát

 Đều đến hoan hỉ cúng dường Phật

 Bồ Tát đúng pháp cúng dường rồi

 Nhứt tâm nghe pháp của Phật nói

 Nghe pháp vui vẻ về bổn quốc

 Tán thán các công đức Như Lai

 Xưa Phật tu hành vì chúng sanh

 Trải qua vô lượng vô biên kiếp

 Lúc Phật vì người cầu Bồ Đề

 Tâm Phật không hề có chán mỏi

 Thế Tôn bố thí vững trì giới

 Nhẫn nhục tinh tấn nhập thiền định

 Trí huệ phương tiện đều đầy đủ

 Do đó tôi lậy đấng Đại Thánh

 Như Lai đầy đủ bốn như ý

 Các căn các lực các giải thoát

 Phật rõ tâm ý thức chúng sanh

 Do đó tôi lậy biển đại trí

 Phật biết ý niệm của chúng sanh

 Thân khẩu họ tạo nghiệp thiện ác

 Cũng rõ các giải thoát phương tiện

 Đức Phật biết rồi thuyết pháp dạy

 Tham sân si mê hoặc chúng sanh

 Khiến họ sa vào ba ác đạo

 Đức Phật biết rồi bảo dứt trừ

 Khiến chúng sanh ấy sanh cõi lành

 Quá khứ tất cả các Thế Tôn

 Được Trời Người Ma Phạm cung kính

 Đấng đầy đủ công đức vị lai

 Thế Tôn đều biết rất rõ ràng

 Chư Phật tịnh độ chỗ được sanh

 Bồ Tát Thanh Văn và Duyên Giác

 Trời Người quyến thuộc và chủng tánh

 Thọ mạng dài ngắn Phật đều biết

 Sau khi diệt độ chánh pháp trụ

 Cúng dường Xá lợi xây tháp miếu

 Người thọ pháp tạng bao nhiêu hạng

 Điều Ngự Trượng Phu đều biết rõ

 Mười trí lực Phật không chướng ngại

 Hay thấu rõ suốt việc tam thế

 Vào trong tất cả chư pháp trí

 Do đó tôi lậy biển đại trí

 Không ai ngang bằng huống hơn Phật

 Các tướng trang nghiêm thân Như Lai

 Ví như tinh tú tại hư không

 Do đó tôi lạy đấng Tối Thắng

 Thân Phật diệu sắc không sánh bằng

 Chói che ánh sáng cả đại hội

 Oai đức Thích Phạm ở bên Phật

 Tất cả che mất đầu chẳng hiện

 Thân như núi vàng không bụi dơ

 Tóc biếc mịn mềm xoắn phía hữu

 Đỉnh Phật lộ rõ như Tu Di

 Khối quang minh vô lượng công đức

 Lông trắng giữa mày phóng sáng lớn

 Vô lượng vô biên và vô số

 Mắt Phật rộng dài như sen xanh

 Nhìn chúng sanh với từ bi lớn

 Như vầng trăng thu tròn giữa trời

 Diện bộ của Phật cũng như vậy

 Chúng sanh nhìn ngắm không chán đủ

 Do đó tôi lạy vua mặt đẹp

 Dường như sư tử công ngỗng chúa

 Bước chậm đi an như tượng vương

 Đi đứng chấn động cả trời đất

 Kính lạy Thập Lực rất khổ hạnh

 Ngón tay tròn vót ai cũng yêu

 Màn da màu san hô đồng đỏ

 Cánh tay thẳng dài thòng quá gối

 Đảnh lễ Như Lai thân vàng chói

 Luân tướng dưới chưn màn lưới đủ

 Lúc đi dấu chưn như tranh vẽ

 Nếu người đảnh lễ đức Thế Tôn

 Phật quang chiếu sáng được sanh thiên

 Pháp Vương có đủ bảy Thánh tài

 Thường dùng pháp thí điều phục tâm

 Đem pháp hành dạy bảo chúng sanh

 Nay tôi đảnh lễ đấng Pháp Vương

 Từ bi làm giáp niệm làm sức

 Cung cứng trì giới tên trí huệ

 Dùng đây phá được giặc phiền não

 Phá ái sanh tử thêm giống Phật

 Tự độ cũng độ ức chúng sanh

 Giải thoát tất cả các chói buộc

 

 Chỉ rõ con đường an vô úy

 Khiến họ đến đường thường an lạc

 Hành nơi thừa này dứt sanh tử

 Không có ân ái khổ biệt ly

 Được đến chỗ vi vi diệu

 Từ tâm thuyết pháp vì chúng sanh

 Ca tụng Thế Tôn tối thắng rồi

 Đấng tự tại trong tất cả pháp

 Dùng đây khen ngợi thắng thiện căn

 Khiến các chúng sanh chứng Bồ đề”.

 

 Hộ Quốc Bồ Tát nói kệ khen ngợi đức Phật rồi chắp tay bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Lòng tôi có điều nghi muốn thỉnh hỏi xin đức Như Lai hứa cho”.

 

 Đức Phật bảo Ngài Hộ Quốc Bồ Tát Tỳ Kheo: “Cho phép ông hỏi, Như Lai sẽ làm cho ông hết nghi và được vui mừng”.

 

 Hộ Quốc Bồ Tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn ! Đại Bồ Tát tu hạnh gì mà ở nơi tất cả pháp thêm lớn công đức đến chỗ cứu cánh được tự tại chứng trí nhanh chóng được trí quyết định, rành rẽ tất cả pháp vào Nhứt thiết trí, giáo hoá chúng sanh hay trừ lưới nghi, hiểu Nhứt thiết dùng xảo phương tiện tế độ chúng sanh, thật hành đúng như lời thường tuyên chơn thiệt, được niệm Phật tam muội khéo thỉnh hỏi tất cả nghĩa sâu xa, nghe rồi có thể thọ trì mau lẹ được nhứt thiết chủng trí ?”.

 

 Hộ Quốc Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 

 “Bồ Tát tu hành thường quyết định

 Chơn thiệt quyết định từ đâu sanh

 Chỗ biển lớn trí huệ phân biệt

 Xin đức Thế Tôn chỉ bảo cho

 Thân Phật vi diệu như vàng ròng

 Khối phước lớn hơn Trời và Người

 Thương xót chúng tôi đại quy y

 Công hạnh thanh tịnh chỉ bảo cho

 Thế nào mà được lợi vô tận

 Sanh giác đạo tổng trì cam lồ

 Thế nào là biển trí thanh tịnh

 Hay dứt nghi hoặc cho chúng sanh

 Ở sanh tử vô lượng ức kiếp

 Mà không lòng mỏi nhọc hối chán

 Thấy các chúng sanh bị khổ bức

 Thường làm lợi ích cho chúng sanh

 Quốc độ thanh tịnh Phật quyến thuộc

 Quốc độ tối thắng và thọ mạng

 Tất cả những sự chỗ vi diệu

 Xin nói hạnh Bồ đề thanh tịnh

 Hàng phục các ma phá tà kiến

 Khô cạn biển ái được giải thoát

 Pháp hành tương tục không đoạn tuyệt

 Đấng tối vô thượng chỉ bảo cho

 Sắc lực tài bửu tứ biện tài

 Lời dịu thương mến khiến người vui

 Cơn mưa từ bi nhuần tất cả

 Chư Phật cảnh giới chỉ bảo cho

 Xin phát tiếng ca lăng tần già

 Tiếng sấm đại phạm phá tà kiến

 Chúng hội khát ngưỡng và pháp đến

 Xin ban nước cam lồ giải thoát

 Nay tôi muốn thành đạo vi diệu

 Vì ưa thích pháp mà thưa thỉnh

 Giờ nghe pháp đến cung kính chờ

 Xin Phật dạy cho pháp bửu lớn

 Bạch Phật ! Tôi muốn thành Bồ đề

 Như Lai biết rõ chí nguyện tôi

 Thiết tha cầu pháp nên hỏi Phật

 Lành thay xin nói hạnh tối thắng”.

 

 Đức Phật phán: “Lành thay, nầy Hộ Quốc! Nay ông có thể hỏi Như Lai thâm nghĩa như vậy đem lợi ích an lạc cho nhiều người, cũng rất lợi ích cho đời sau, những người tu Đại thừa. Ông lắng nghe, Phật sẽ chỉ dạy”.

 

 Hộ Quốc Bồ Tát bạch rằng: “Lành thay, bạch đức Thế Tôn ! Xin chỉ dạy cho”.

 

 Phật dạy : “Nầy Hộ Quốc ! Bồ Tát có bốn pháp hay hoàn thành những sự thanh tịnh như trên:

 

 Một là tâm chơn thiệt không siểm khúc.

 Hai là thật hạnh bình đẳng đối với các chúng sanh.

 Ba là tâm niệm nhập vào không.

 Bốn là thật hành như lời.

 

 Hộ Quốc nên biết bốn thứ ấy có thể được pháp thanh tịnh của Bồ Tát”.

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Nếu có Bồ Tát lòng không vạy

 Mà thường chẳng lui đạo Bồ đề

 Cũng không ý ngang trái cống cao

 Đây gọi là trí huệ vô biên

 Thấy các chúng sanh không được cứu

 Bị sanh già bịnh chết bức ngặt

 Phát tâm muốn qua biển sanh tử

 Hay làm pháp thuyền cho tất cả

 Bình đẳng điều phục các chúng sanh

 Xem các chúng sanh như con một

 Đều muốn cứu độ cho giải thoát

 Đấng thắng trượng phu phát tâm này

 Đi đứng ngồi nằm niệm pháp không

 Thọ giả ngã tưởng đều không cả

 Thế gian tất cả đều như ảo

 Chúng sanh ngu si bị mê hoặc

 Đại trí Bồ Tát nói lời ra

 Y lời thật hành không sai thất

 Điều phục tịch tịnh rời các lỗi

 Hay cầu Bồ đề gọi Phật tử”.

 

 Nói kệ xong đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Đại Bồ Tát lại có bốn thứ pháp vô úy :

 

 Một là được đà la ni. Hai là gặp thiện tri thức. Ba là được thâm pháp nhẫn. Bốn là giới hạnh thanh tịnh”.

 

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 Bồ Tát danh tiếng lớn

 Do vì được tổng trì

 Thọ trì pháp tối diệu

 Của chư Phật tuyên nói

 Hằng thường chẳng quên mất

 Thêm lớn nơi trí huệ

 Trí Bồ Tát vô ngại

 Vượt hơn tất cả pháp

 Thường gặp thiện tri thức

 Thêm các pháp trợ đạo

 Thường nói đại Bồ đề

 Chỗ đi của chư Phật

 Ác tri thức như lửa

 Sợ cháy nên xa lìa

 Nếu nghe pháp không tướng

 Dũng mãnh vững tâm mình

 Bồ Tát rời ngã nhơn

 Tất cả các kiến chấp

 Trì giới không khuyết lậu

 Tâm họ đều tịch tịnh

 Giáo hóa các chúng sanh

 An trụ nơi Phật giới”.

 

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Chư Bồ Tát các công hạnh viên mãn đến chỗ cứu cánh có bốn công đức làm cho hoan hỉ :

 

 Một là Bồ Tát thấy Phật nên sanh hoan hỉ.

 Hai là nghe chánh pháp n nên sanh hoan hỉ.

 Ba là xả bỏ tất cả nên sanh hoan hỉ.

 Bốn là thuận pháp nhẫn nên sanh hoan hỉ “.

 

 Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:

 

 “Bồ Tát sanh chỗ nào

 Thường thấy đấng tối thắng

 Oai quang khắp tất cả

 Soi sáng khắp thế gian

 Thấy rồi lòng tín ngưỡng

 Như Trời thờ Đế Thích

 Vì độ các chúng sanh

 Lúc cầu đạo Bồ đề

 Theo Phật nghe chánh pháp

 Chẳng sợ mà hoan hỉ

 Nhứt tâm kính tin rồi

 Tùy thuận lời Phật dạy

 Nghe nơi pháp tùy thuận

 Đắc nhẫn lòng không nghi

 Các pháp không chúng sanh

 Ngã tưởng cũng không có

 Thường quán như vậy rồi

 Xả bỏ tướng sanh vui

 Đã chẳng chấp ngã tướng

 Thấy người xin liền mừng

 Thành ấp cùng ruộng đất

 Vợ con và thân mạng

 Đem bố thí tất cả

 Lòng không hề hối tiếc”.

 

 Đức Phật nói kệ rồi bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Có bốn

 pháp phải vứt bỏ:

 

 Một là Bồ Tát vứt bỏ nhà thế tục.

 Hai là đã xuất gia rồi chẳng tham lợi dưỡng

 Ba là rời lìa thân cận đàn việt.

 Bốn là chẳng tiếc thân mạng”.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 “Bồ Tát thấy lỗi nhà

 Nên bỏ mà xuất gia

 Đến ở nơi núi rừng

 Chỗ tịch tịnh không người

 Xa rời nam và nữ

 Xa quyến thuộc đại chúng

 Riêng mình không bạn bè

 Như tê giác một sừng

 Chuyên tâm cầu tịnh đạo

 Được mất lòng không lo

 Thiểu dục và tri túc

 Ly siểm trừ kiêu mạn

 Tinh tấn vì chúng sanh

 Bố thí điều phục tâm

 Khổ hạnh tu thiền định

 Nhứt tâm cầu Phật trí

 Chẳng tiếc thân và mạng

 Xa lìa ái quyến thuộc

 Vững tâm cầu Bồ đề

 Ý chí như kim cương

 Nếu có người chém chặt

 Không có lòng giận thù

 Tâm dũng mãnh thêm lớn

 Cầu được nhứt thiết trí”.

 

 

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử!

 

 Bồ Tát có bốn pháp không hối tiếc :

 

 Một là chẳng phá hoại cấm giới, hai là ở a lan nhã, ba là thật hành

 bốn thánh củng, bốn là đa văn, đây là bốn thứ pháp không hối tiếc.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 “Trì giới tịnh vô cấu

 Dường như châu ma ni

 Chẳng sanh lòng cống cao

 Khoe tôi hay trì giới

 Lại đem chánh giới ấy

 Dạy lại cho nhiều người

 Thường hoài vọng như vậy

 Thành tựu nơi Phật giới

 Bồ Tát ở rảnh vắng

 Nơi lan nhã thanh tịnh

 Cũng chẳng nghĩ tưởng ngã

 Tưởng thọ giả cũng không

 Quan sát nam nữ sắc

 Dường như những cỏ cây

 Chẳng sanh tưởng nam nữ

 Tưởng ngô ngã cũng không

 An trụ bốn thánh chủng

 Không giải đãi siểm khúc

 Chí tâm hằng tu hành

 Xa lìa những phóng dật

 Cầu công đức đa văn

 Thường tinh cần tu tập

 Nguyện thành Nhứt thiết trí

 Chỗ công đức tối thượng

 Chúng sanh ở lao ngục

 Không được ai cứu hộ

 Luân chuyển sanh tử mãi

 Cầu tài tự cung cấp

 Tôi sẽ cầu pháp thuyền

 Vớt họ khỏi sanh tử

 Biển phiền não khổ lụy

 Đưa họ đến bờ kia

 Chúng sanh không quy y

 Cũng không người cứu hộ

 Chúng sanh tại hữu vi

 Không ai đưa họ ra

 Tôi sẽ làm Đạo Sư

 Cứu họ được giải thoát

 Thế nên tôi phát tâm

 Cầu chứng đạo Bồ đề”.

 

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có bốn hạnh điều phục phải thật hành :

 

 Một là nguyện sanh xứ lành thường gặp chư Phật.

 Hai là cúng dường Sư Trưởng mà chẳng cầu báo.

 Ba là thường thích rảnh vắng vứt bỏ lợi dưỡng.

 Bốn là được biện tài vô ngại đầu đà nhẫn pháp.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 “Bồ Tát dũng mãnh thích núi rừng

 Thường chẳng theo người cầu lợi dưỡng

 Hằng được trí sâu vô ngại biện

 Giỏi hay thông đạt các pháp tướng

 Thường phải cúng dường các Sư Trưởng

 Tùy thuận lời Thầy không chống trái

 Tùy chỗ sanh ra gặp chư Phật

 Cúng dường cung kính cầu Bồ đề

 Thường sanh xứ tốt danh tiếng cao

 Ở trời là tôn quí trong trời

 Lại được thành tựu đạo Bồ đề

 Dạy các chúng sanh hành thập thiện

 Niệm Phật công đức thường hoan hỉ

 Tôi cũng chẳng lâu thành Phật đạo

 Đã thành Chánh giác đủ công đức

 Cứu độ chúng sanh khỏi sanh tử”.

 

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có bốn pháp thanh tịnh hạnh Bồ đề :

 

 Một là lúc hành Bồ đề không có tâm sân hận.

 Hai là vứt bỏ quyến thuộc cung điện tài bửu thích ở núi rừng cũng chẳng khoe nói công đức của mình.

 Ba là dầu bố thí mà chẳng cầu quả báo.

 Bốn là tinh cần thích pháp chẳng thấy lỗi của thầy”.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 “Bồ Tát tâm tịnh không oán hận

 Cũng chẳng tìm tội lỗi của người

 Mình chẳng siểm khúc không nhiễm trước

 Hành đạo Đại thừa cầu Bồ đề

 Thấy rõ ở nhà là gốc khổ

 Gần kề ác hữu không chánh niệm

 Do đó vứt bỏ đi xuất gia

 Ở nơi núi rừng cầu giải thoát

 Thường ở rảnh vắng tịch tịnh vui

 Dứt hẳn ái niệm nơi quyến thuộc

 Chẳng tiếc thân thể và mạng sống

 Riêng đi không sợ như sư tử

 Khất thực nuôi thân thường biết đủ

 Như loài chim bay không chứa cất

 Chẳng thích sanh trời và nhơn gian

 Chỉ cầu đạo Bồ đề Vô thượng

 Riêng đi không bạn chỉ một mình

 Hằng chẳng sợ sệt như sư tử

 Sợ các phiền não như thú dữ

 Nếu được lợi dưỡng lòng chẳng mừng

 Thấy các chúng sanh luôn phóng dật

 Từ bi thệ nguyện phá lỗi ấy

 Vì tôi cứu hộ các chúng sanh

 Nên thường hăng say siêng tinh tấn

 Phàm có phát ngôn luôn thương mến

 Với kẻ ghét thương luôn cười mỉm

 Chẳng dính tất cả như gió thoảng

 Chỉ nên cầu nơi hạnh trượng phu

 Thường ưa tu tập không vô tướng

 Xem pháp hữu vi như ảo hóa

 Điều phục các căn ý lớn rộng

 Đi đứng luôn ưa pháp cam lộ

 Thường y Phật giáo hành đại đạo

 Hằng thường thanh tịnh nơi nội tâm

 Cầu đà la ni và biện tài

 Mang gánh các khổ cầu Bồ đề

 Bồ Tát thường quán công hạnh ấy

 Hiện tiền lợi ích sanh hoan hỉ

 Nếu chẳng ưa thích đạo Bồ đề

 Người này không ác gì chẳng tạo”.

 

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát : “Bồ Tát có bốn thứ pháp đọa lạc :

 

 Một là chẳng cung kính người khác.

 Hai là bội ơn siểm khúc.

 Ba là nhiều cầu lợi dưỡng danh vọng.

 Bốn là trá hiện hành tốt khoe mình giỏi”.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 “Đối với cha mẹ và Sư Trưởng

 Họ thường kiêu mạn không cung kính

 Trái quên ân dưỡng lòng siểm khúc

 Các căn tán loạn nhiều ngu si

 Luôn nhớ lợi dưỡng chẳng thôi ngớt

 Siểm khúc trá hiện tướng tinh tấn

 Tự nói trì giới và khổ hạnh

 Không ai có được như mình cả

 Ác khẩu lời thô ưa tranh đấu

 Thường tìm lỗi người chẳng thôi dứt

 Họ luôn xa rời hạnh Sa Môn

 Làm ruộng canh tác và buôn bán

 Chư Tỳ Kheo trong đời vị lai

 Vứt bỏ công đức và giới hạnh

 Vì lòng tật đố và đấu tranh

 Làm tổn hư mất chánh pháp Phật

 Họ cách Bồ đề rất xa vời

 Họ cũng xa rời bảy thánh tài

 Chống trái tám đường chánh giải thoát

 Trôi lăn năm loài trong sanh tử”.

 

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Có bốn thứ pháp chướng đạo : Đó là bất tín, giải đãi, ngã mạn và sân hận”.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 “Bất tín giải đãi lòng ám độn

 Lòng thường ngã mạn và sân hận

 Thấy chư Tỳ Kheo hành nhẫn nhục

 Đuổi xua ra khỏi các chùa tháp

 Nếu được lợi dưỡng lòng hoan hỉ

 Đều nói ta là người thường trụ

 Luôn tìm mọi cách vạch lỗi người

 Người nào có tội tôi trị phạt

 Những người như vậy xa chánh pháp

 Ganh ghét công đức đọa tam đồ

 Chán ghét pháp diệu của chư Phật

 Người này sẽ vào trong lửa lớn

 Người này gây ác chẳng thôi dứt

 Quyết sẽ chịu đủ khổ trong khổ

 Thế nên Bồ Tát cầu Bồ đề

 Chớ để phải hối đọa ác đạo

 Vô lượng ức kiếp Phật mới hiện

 Để làm lợi ích cho chúng sanh

 Bồ Tát đã được thân cõi lành

 Phải bỏ phóng dật cầu giải thoát”.

 Nói kệ xong, đức Phật bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử! Phải bỏ bốn hạng người chẳng được gần kề họ:

 

 Một là chẳng được gần kề ác tri thức.

 Hai là chẳng được gần kề người chấp kiến.

 Ba là chẳng được gần kề kẻ báng pháp.

 Bốn là chẳng được gần kề người tham lợi dưỡng”.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 “Hay xa ác tri thức

 Gần kề thiện tri thức

 Đạo Bồ đề tăng trưởng

 Như trăng lần tròn đầy

 Xa lìa kẻ chấp kiến

 Chấp ngã chấp thọ giả

 Bỏ đi như độc

 Để cầu nên Phật đạo

 Chê bai Phật chánh pháp

 Vị cam lồ tịch tịnh

 Nếu muốn cầu Bồ đề

 Phải tránh như phẩn dơ

 Xa lìa tham lợi dưỡng

 Cũng bỏ người ác hạnh

 Hạng ấy chẳng nên gần

 Như tránh hố lửa lớn

 Nếu muốn hành phục ma

 Chuyển pháp luân vô thượng

 Muốn cầu lợi đệ nhứt

 Mau xa ác tri thức

 Bỏ ái và ghét xấu

 Lợi danh cũng xa tránh

 Muốn cầu đạo vô thượng

 Thường tu trí của Phật”.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ xong, lại bảo Hộ Quốc Bồ Tát có bốn thứ pháp thọ khổ đời sau :

 

 Một là khinh mạng người có trí.

 Hai là thường ôm lòng tật đố.

 Ba là ở nơi tất cả pháp không có lòng tin.

 Bốn là ở nơi pháp tịnh trí thường nghi không nhẫn thọ mà cầu lợi dưỡng”.

 

 Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

 “Người hầu gần Phật bực có trí

 Tất cả Trời Người phải cúng dường

 Mà lại cống cao lòng kiêu mạn

 Do đó sẽ thọ vô biên khổ

 Với pháp tịnh trí không tin nhận

 Lợi dưỡng được cầu đều phi pháp

 Thường hoài kiêu mạn và cống cao

 Thấy người có trí không cung kính

 Ở trong Phật pháp không tin hiểu

 Với chúng hiền thánh cũng chẳng tin

 Người này thường đi trong ác đạo

 Sanh làm thân người nhiều ngu si

 Họ bỏ thọ mạng nhơn gian rồi

 Ở đại địa ngục chịu khổ lớn

 Nơi đây kiếp tận sanh phương khác

 Súc sanh ngạ quỉ cũng như vậy

 Nếu người muốn cầu được làm Phật

 Thành thắng trượng phu hết các khổ

 Thường phải xa rời nghiệp tam đồ

 Tu các công đức thành Chánh giác”.

 

 Nói kệ xong, đức Phật lại bảo Hộ Quốc Bồ Tát: “Có bốn thứ trói buộc Bồ Tát:

 

 Một là khinh mạn người khác.

 Hai là nơi thiền định thế tục có lòng ưa thích chẳng cầu cứu cánh.

 Ba là chẳng gìn giữ tâm mình, trí huệ chưa thành mà phóng dật.

 Bốn là vì cầu lợi dưỡng mà vào nhà người khác.

 

 Trên đây là bốn thứ trói buộc Bồ Tát.

 

 Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

 

 “Luôn luôn khinh mạn người

 Ưa thích thế gian thiện

 Tham trước các kiến phược

 Như voi lún bùn sâu

 Ưa vào nhà bạch y

 Thường có lòng phóng dật

 Tối ngu không trí huệ

 Hạnh ấy tên trói buộc

 Muốn dứt khổ sanh tử

 Xa rời hẳn tam giới

 Phải bỏ lòng kiêu mạn

 Thường hành đạo Bồ Tát

 Chịu lấy vô biên khổ

 Vứt bỏ các sự vui

 Cũng rời lìa thương ghét

 Thành Phật không nhiễm trước

 Bồ Tát phải thường tu lục độ

 Các địa các trí các lục thảy

 Tất cảc công đức nếu thành tựu

 Thì được thoát khỏi lưới sanh tử

 Phật ở vô lượng kiếp xa xưa

 Vì các chúng sanh cầu Bồ đề

 Thường hành bố thí để điều phục

 Bỏ lìa ân ái tu chánh đạo

 Hằng chẳng xa rời chỗ vắng vẻ

 Khổ hạnh ốm gầy cầu Bồ đề

 Phấn khởi tinh tấn không lười biếng

 Cầu được trí trượng phu tối thắng

 Thấy các chúng sanh tại tam giới

 Luân chuyển năm loài chịu sanh tử

 Thương xót tất cả khởi đại bi

 Do đó mà cầu Bồ đề đạo

 Bỏ lìa con cưng và thê thiếp

 Cũng bỏ của cải bảy báu thảy

 Thọ mạng quốc độ và đại địa

 Để cầu Bồ đề Phật trí huệ

 Thuở xưa Phật ở núi rừng tốt

 Làm tiên tu hành tên Nhẫn nhục

 Bị vua Ca lợi xẻo tai mũi

 Máu biến làm sữa không lòng hờn

 Thuở xưa từng làm con hiếu thảo

 Yêu mến cúng dường cha và mẹ

 Bị tên độc kẻ ác bắn trúng

 Bấy giờ cũng không lòng oán giận

 Chẳng tiếc mạng sống nhảy gộp cao

 Để cầu lời lành chư Phật dạy

 Bấy giờ cũng không thấy thân mạng

 Chỉ để thành đại sự Bồ đề

 Thuở xưa thương xót các thú đói

 Thí thịt thân mình cho tám cọp

 Bấy giờ chư Thiên ở hư không

 Khen rằng lành thay đại trượng phu

 Thuở xưa ưa làm đại thí chủ

 Từng làm tịnh hạnh Bà La Môn

 Vì thương chúng sanh khổ đói nghèo

 Vào biển cầu tìm châu như ý

 Rồi bị thần biển cướp lấy mất

 Bấy giờ ta cố tát biển cả

 Liền được bửu châu về Diêm Phù

 Dùng cứu giúp chúng sanh nghèo thiếu

 Cũng từng làm vua tên Tô Ma

 Cho đến mất mạng chẳng nói dối

 Các vua do ta được giải thoát

 Tiếng tăm vang dội khắp mười phương

 Xưa ta từng thấy người nghèo cùng

 Ta đang làm vua đem thân thí

 Khiến họ giàu to nhiều của báu

 Nên ta được hiệu thí tất cả

 Xưa ta từng làm vua Thi Tỳ

 Chim câu kinh sợ đáp lòng ta

 Ta đem thân mình thay mạng chim

 Cho chim thoát khỏi sự khủng bố

 Xưa ta làm vua tên Sư Tử

 Thân mạng bịnh nặng thầy cho thuốc

 Có người bịnh đến xin thuốc ấy

 Ta chẳng tiếc thân cho họ trước

 Xưa ta tu hành vì chúng sanh

 Làm Vương Tử tên Tô Đạt Noa

 Có người đến xin con và vợ

 Ta chẳng hề tiếc đều cho cả

 Từng làm Bồ Tát tên Nghiêm Xí

 Vì cảm hóa tài đức Quốc Vương

 Trải qua tám vạn bốn ngàn năm

 Cố gắng tinh tấn mới cảm hóa

 Cũng làm Vương Tử tên Tịnh Oai

 Tự đốt thân mình cúng tháp Phật

 Cung kính cúng dường đấng Thập Lực

 Vô Thượng Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

 Từng làm Quốc Vương tên Nguyệt Quang

 Có người phạm chí tên Khả Úy

 Theo ta cầu xin trọn cái đầu

 Ta liền mau mắn đem đầu thí




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog