Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

 ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 76



PHÁP HỘI HỘ QUỐC BỒ TÁT

THỨ MƯỜI TÁM


Lại làm Quốc Vương tên Phước Đức

 Ở trong các tụ lạc phố phường

 Chứa đầy thuốc men và thực phẩm

 Để ban cho tất cả chúng sanh

 Từng làm Quốc Vương tên Nhựt tịnh

 Kỹ nữ xinh đẹp đủ ngàn người

 Chuỗi ngọc bảy báu trang nghiêm đầu

 Hoa hương đẹp thơm dùng nghiêm sức

 Cũng đem bố thí cho mọi người

 Lại làm Quốc Vương tên Tri Túc

 Tay chưn dịu mềm như bông tơ

 Sắc đẹp sạch trong như hoa sen

 Cũng đem bố thí các chúng sanh

 Lại làm thương chủ tên Tịnh Nhãn

 Đem năm trăm người tìm bảy báu

 Các quỉ La Sát hiện mỹ nữ

 Thương chủ cứu thoát cả đoàn người

 Từng làm Vương Tử tên Phước Diệm

 Thê thiếp kỹ nữ đến số ức

 Thân hình xinh đẹp như thiên nữ

 Rời bỏ xuất gia không ái luyến

 Lài làm thương chủ tên Kim Sắc

 Lúc ấy có Phật hiệu Vô Cấu

 Kim Sắc đối Phật đốt mười ngón

 Cúng dường Tối Thắng Lưỡng Túc Tôn

 Lại làm Quốc Vương hiệu Hoa Nhãn

 Mọi người chiêm ngưỡng lòng không nhàm

 Đem đôi mắt đẹp để bố thí

 Vì lòng vua thương chúng sanh vậy

 Lại làm Bồ Tát tên Đa Phát

 Thấy có phụ nhơn vừa mất chồng

 Ngày đêm nhớ thương mãi không nguôi

 Triền miên lõa lồ tâm điên cuồng

 Bồ Tát Đa Phát lòng xót thương

 Hóa hình chồng chết bảo vợ cuồng

 Lần lần giáo hóa vợ cuồng kia

 Khiến hết cuồng điên tâm tỉnh ngộ

 Lại làm Bồ Tát tên Phổ Chiêm

 Thấy một người bịnh gầy đau khổ

 Bấy giờ Phổ Chiêm sanh từ bi

 Đem huyết nhục mình thí người bịnh

 Lại làm Quốc Vương tên Hoa Phu

 Thấy có một người bịnh khốn ngặt

 Hoa Phu Bồ Tát sanh từ tâm

 Chẻ xương tủy mình chữa bịnh ấy

 Lại làm Quốc Vương tên Thành Lợi

 Thấy có một người quá nghèo cùng

 Đem hết của cải thí cho họ

 Lại bỏ thân mạng không luyến tiếc

 Ta làm Quốc Vương tên Tín Tràng

 Hai tay nhu nhuyến đủ luân tướng

 Có người đến xin hai tay ấy

 Vì cầu Bồ đề ta liền cho

 Lại làm Quốc Vương tên Phổ Hiện

 Có bốn thiên hạ nhiều của báu

 Nước nhà giàu vui dân chúng đông

 Vì cầu Bồ đề đem bố thí

 Lại làm Vương nữ tên Trí Ý

 Thân thể trắng sạch rất nhu nhuyến

 Từ bi hoan hỉ cắt thịt đùi

 Và thí máu huyết lòng chẳng tiếc

 Lại làm nữ nhơn tên Ngân Sắc

 Trong thành Kim Sắc có phụ nữ

 Mới đẻ đói khát muốn ăn con

 Ngân Sắc thẻo vú cho người đói

 Lại làm Quốc Vương tên Văn Đức

 Rất giàu tiền của nhiều anh lạc

 Vàng bạc bảy báu các xe cộ

 Người đời khó bỏ vua đều thí

 Lại làm Vương Tử tên Tri Ân

 Có người té biển tên Vô Ân

 Vô Ân vì báu đâm mắt ta

 Bấy giờ lòng ta chẳng oán hận

 Lại nhớ quá khứ làm lính chiến

 Ở trong đại trận không lòng giết

 Thà thân mình chết chẳng hại người

 Nhẫn đến kiến muỗi không tưởng giết

 Lại nhớ quá khứ làm chim trĩ

 Cung kính cúng dường bực tôn trưởng

 Đồng loại già trẻ đều cấp cho

 Bấy giờ đều không lòng ngạo mạn

 Lại nhớ quá khứ làm vượn khỉ

 Ở núi gặp phải người thợ săn

 Cả bầy khỉ vượn về nương ta

 Vì thương mạng chúng ta liền cứu

 Lại nhớ quá khứ làm tượng vương

 Bị Quốc Vương kia bắt trói cột

 Ta nhớ cha mẹ mù đôi mắt

 Thà chịu đói chết nhịn không ăn

 Lại nhớ quá khứ làm thân gấu

 Có người lạc đường ta cứu nuôi

 Họ dẫn thợ săn phản hại ta

 Dầu bị phản hại ta không giận

 Lại nhớ quá khứ làm tượng vương

 Bị trúng mũi tên của thợ săn

 Ta cầu Bồ đề các công đức

 Đem ngà dâng cho thợ săn ấy

 Lại nhớ quá khứ làm chim trĩ

 Ở tại đồng quê cạnh khu rừng

 Rừng ấy bị lửa cháy lan đến

 Ta cứu lửa rừng trời mưa hoa

 Xưa ta từng làm nai chín màu

 Ăn cỏ uống nước bên bờ sông

 Nước sông sâu rộng dòng chảy gấp

 Có người té sông ta cứu họ

 Người ấy ham tiền lãnh lịnh vua

 Đem nhiều binh lính đến hại ta

 Ta cầu Bồ đề làm từ bi

 Đối với người ấy không oán giận

 Lại nhớ quá khứ làm rùa lớn

 Tế độ người buôn qua khỏi biển

 Năm trăm người buôn ăn thịt ta

 Lòng ta từ bi không giận họ

 Ta nhớ quá khứ hành Bồ đề

 Từng làm thân cá lội trong nước

 Thương xót tất cả nên xả thân

 Trăm ngàn chúng sanh ăn thịt ta

 Ta thấy trăm ngàn chúng sanh bịnh

 Hóa thân làm thuốc lớn như núi

 Muốn cho chúng sanh trừ bịn khổ

 Biến làm thân trùng tên là Nguyệt

 Lại nhớ xưa làm sư tử vương

 Thân lớn sức mạnh mà lòng thương

 Lại nhớ quá khứ làm mã vương

 Thân sắc trắng sạch như ngọc tuyết

 Thường tại biển lớn đảnh núi cao

 Cứu các lữ hành nạn La Sát

 Lại nhớ quá khứ cầu Bồ đề

 Từng làm Quốc Vương tên Cư Gia

 Thấy các dục lạc nhiều lỗi họa

 Chẳng theo dâm nữ bị lời gian

 Lại nhớ quá khứ từng làm thỏ

 Thường dạy bày thỏ các việc lành

 Cùng tiên ở chung đồng tu niệm

 Xả thân tự thiêu cứu tiên đói

 Lại nhớ quá khứ làm anh võ

 Thường ở cụm rừng nhiều hoa quả

 Báo ơn cây khô chẳng rời bỏ

 Vua trời biến cây khô sanh trái

 Lại nhớ từng làm vua loài khỉ

 Thấy bầy khỉ vượn bị rồng hại

 Bèn dạy bầy khỉ uống ống tre

 Khỉ vượn đều khỏi nạn rồng hại

 Ta lại nhớ xưa làm anh võ

 Lấy thóc của người nuôi cha mẹ

 Chủ lúa bắt ta giận quở rằng

 Sao dám trộm lấy lúa nhà người

 Ta thưa lúc người gieo trồng lúa

 Hứa rằng cho các chúng sanh ăn

 Nay tôi lấy về nuôi cha mẹ

 Chẳng thể bảo là trộm cắp được

 Chủ lúa tức thì lòng hoan hỉ

 Tôi là cầm thú chim là người

 Lành thay anh võ có trí huệ

 Biết hiếu cha mẹ biết cúng dường

 Từ nay về sau tôi thí lúa

 Cho chim đem về dâng cha mẹ

 Quá khứ như vậy vô lượng sự

 Không khổ hạnh nào mà chẳng làm

 Chưa hề sanh lòng nhàm chánh mỏi

 Để cầu vô thưọng thanh tịnh đạo

 Bao nhiêu vật trong và vật ngoài

 Không có một thứ chẳng phát khởi

 Trì giới nhẫn nhục tinh tấn thiền

 Vô lượng phương tiện và trí huệ

 Da thịt xương tủy và máu huyết

 Đem thí tất cả cho chúng sanh

 Thuở xưa ta ở trong núi rừng

 Dũng mãnh tinh tấn thân khô kiệt

 Để tìm Phật dạy Đại Tiểu thừa

 Truyền dạy chúng sanh khiến nhập đạo

 Thường thích ở tại chỗ đầu đà

 Luôn luôn tu hành không vứt bỏ

 Tất cả khổ hạnh khó như vậy

 Từ thuở xa xưa ta đều làm

 Phật nói vị lai các chúng sanh

 Nghe ta thuật lại lòng khinh cười

 Chẳng tin nhận làm một câu kệ

 Trở lại hủy báng pháp như vậy

 Vì họ tham ưa ăn mặc thảy

 Lòng luôn suy tưởng ngủ nghỉ nhiều

 Siểm khúc hủy pháp không tàm quí

 Phá hoại chánh pháp không công đức

 Nghe pháp vi diệu tịch tịnh này

 Cho rằng chẳng phải của Phật dạy

 Thầy ta đa văn dường biển cả

 Giảng giỏi nói hay tối đệ nhứt

 Họ cũng chẳng hành pháp như vậy

 Các ông chớ cầu sự hư vọng

 Trong ấy không ngã không thọ mạng

 Cũng chẳng nói có tướng chúng sanh

 Luống tự nhọc nhằn không phước đức

 Uổng công tu hành các khổ hạnh

 Đã nói có pháp tên Đại thừa

 Sao lại còn nói không vô ngã

 Bởi không chúng sanh không tác giả

 Thế nên nơi pháp chẳng cần cầu

 Các văn cú ấy giả làm ra

 Cũng như ngoại đạo tà ý thuyết

 Như Lai chẳng nói sự như vậy

 Quở trách mắng nhục chư Tỳ Kheo

 Bọn ấy bất thiện không tu sĩ

 Gian ngụy khi dối đủ sự ác

 Đời sau ở trong pháp của Phật

 Mà làm hình tướng các Tỳ Kheo

 Trong lòng tật đố đầy mạn phú

 Tay chưn nhiễu động mất oai nghi

 Ca sa luôn luôn thòng hai gốc

 Thân mặc pháp phục thường ở chợ

 Đi trong nhà tục hằng say rượu

 Thân mặc pháp y gần người tục

 Vứt bỏ chánh pháp khối công đức

 Ưa làm sứ giả cho người tục

 Chứa nuôi bò ngựa dê heo gà

 Tôi trai tớ gái vật bất tịnh

 Làm ruộng làm vườn hằng loạn tâm

 Lòng ưa việc ác không hạnh lành

 Cũng chẳng thân cận thiện tri thức

 Miệng chẳng lựa chẳng chọn lời nói năng

 Trong thân làm đủ các sự ác

 Tham lấy vật Tăng vật tháp Phật

 Huống là của mình mà chịu thí

 Thấy chư Tỳ Kheo trì tịnh giới

 Chê bai chẳng phải thiệt phạm hạnh

 Chẳng gìn cấm giới không oai đức

 Thích ở nhà tục xâm vợ người

 Bạch y có vợ còn hổ thẹn

 Ác Tỳ Kheo kia tham còn hơn

 Chứa nuôi vợ con cầu chẳng chán

 Cùng các kẻ tục không có khác

 Nếu có đàn việt thỉnh cúng dường

 Bố thí áo cơm thuốc men thẩy

 Thọ của tín thí không tịnh niệm

 Chỉ thêm tham dục xâm vợ người

 Lòng thường mơ tưởng bên nữ sắc

 Tùy thuận phiền não không thánh hạnh

 Phương tiện dụ phỉnh các phụ nữ

 Giáo hóa người tục khiến đoạn dục

 Rằng người tham dục đọa ác đạo

 Đọa vào địa ngục quỉ súc sanh

 Nhưng chính thân mình chẳng y giáo

 Làm sao truyền pháp giáo hóa người

 Người này ba nghiệp chẳng đúng pháp

 Bao nhiêu quyến thuộc cũng như vậy

 Ngày đêm họp bàn không thôi nghỉ

 Chỉ luận ngũ dục các thế sự

 Nhận nuôi môn đồ chỉ sai khiến

 Trọn không dạy bảo các đạo lành

 Nhận đệ tử đông tụ bao quanh

 Hiển mình đức lớn cầu danh lợi

 Ngoài hiện dị tướng dối từ bi

 Nhiếp các đồ chúng chẳng cầu lợi

 Môn đồ quyến thuộc nhiều bịnh hoạn

 Khô gầy hủi lác ghẻ chóc thảy

 Chỉ là tạp loại hạng hạ nhơn

 Trọn chẳng chỉ dạy Phật pháp lành

 Giới văn định huệ đều vứt bỏ

 Chẳng làm việc làm của Tỳ Kheo

 Chẳng đạo chẳng tục không tên gọi

 Dường như khúc gỗ hư mục rã

 Đối với luật nghi lòng khinh rẻ

 Bồ tát thuyết giới cũng coi khinh

 Tự tại dạo chơi trái lời Phật

 Đường đột như voi say thả lòng

 Hoặc lúc dối hiện ở núi rừng

 Lòng thường tưởng việc ở thành thị

 Phiền não ba độc luôn phát khởi

 Chẳng thể tạm thời lòng tịch tịnh

 Quên mất lời Phật đã dạy răn

 Cùng hạnh đầu đà các công đức

 Ngã mạn cống cao đầy trong thân

 Đọa tại a tì ngục đáng sợ

 Ngày đêm hằng luận quốc độ sự

 Cũng thường luận nói nơi đạo tặc

 Thân tâm chuyên lo việc thân duyên

 Bỏ lìa thiền định và trí huệ

 Dầu cho có tu ưa sự thô

 Lòng lo tự an nên xây dựng

 Giả sử xây dựng Tăng già lam

 Tham ưa phòng nhà mày luôn nhíu

 Thân khẩu ý mình chẳng điều nhu

 Đồ chúng học theo cũng giống vậy

 Ác Tỳ Kheo kia dầu tạo tự

 Chuyên vì thân mình và quyến thuộc

 Nếu có Tỳ Kheo thuận tùng họ

 Họ liền áp trí nhiếp thọ ở

 Nếu có trì giới chư Đại Đức

 Phương tiện giỏi hay thuyết chánh pháp

 Tự điều phục mình điều phục người

 Họ trọn chẳng nhận Đại Đức ấy

 Rằng phòng hiện nay tôi đương ở

 Phòng khác của các đệ tử tôi

 Ngoài ra đã thuộc các đồng học

 Ông đi chỗ khác đây không chỗ

 Hiện nay chỗ có giường chõng ấy

 Đều giao phó người thuộc về người

 Không còn dư chỗ để dung ông

 Cũng không áo cơm ông nên đi

 Đồ dùng tạm thời còn không cho

 Huống nhờ phòng nhà và các vật

 Chẳng làm tăng thứ pháp như vậy

 Ác Tỳ Kheo ấy như tục nhơn

 Chứa nhiều tiền của quyến thuộc đông

 Hàng đệ tử Phật sống đúng pháp

 Họ luôn đuổi xua chẳng cho ở

 Có lúc họ nhớ lời Phật dạy

 Lòng họ bi thương vào núi rừng

 Than ôi pháp mầu của Phật dạy

 Chẳng lâu sẽ diệt chẳng còn hiện

 Lại có Tỳ Kheo cầu nhiều lợi

 Thân không pháp hạnh ghét có đức

 Dầu có người trì giới công đức

 Bị họ ghét khinh không lợi dưỡng

 Đều tự buồn than bỏ thành ấp

 Thường ở trong núi vắng rừng quạnh

 Những kẻ si mạn cống cao ác

 Luôn luôn đấu tranh thô lưỡng thiệt

 Khi dối người đời được lợi dưỡng

 Tự cho cùng Thánh đồng không khác

 Phật giáo chánh pháp tạng công đức

 Đầy đủ tất cả công đức diệu

 Đời sau bị hoại không còn hiện

 Bởi do ngã mạn không trì giới

 Như kho báu kia bị người phá

 Như ao hoa sen bị khô cạn

 Như xe báu kia bị gãy hư

 Đời sau Phật pháp cũng như vậy

 Ác Tỳ Kheo kia khó điều phục

 Diệt Phật chánh pháp không còn thừa

 Ở trong đời ác thuở vị lai

 Phá hoại Phật pháp rất đáng sợ

 Những kẻ vui thích sự ác ấy

 Rời xa Trời Người và hạnh lành

 Từ nơi thân này xả mạng rồi

 Đọa vào địa ngục quỷ súc sanh

 Ở đó vô lượng ức ngàn năm

 Chịu đủ tất cả những khổ não

 Về sau giả sử được thân người

 Nhiều khổ uế ác luôn bất tịnh

 Hoặc đui hoặc điếc hoặc câm ngọng

 Thân thể luôn luôn nhiều bịnh tật

 Nhan sắc xấu ác người chẳng ưa

 Thường phải sợ sệt phục vụ người

 Khó vừa ý người khó được thương

 Có lời nói ra không được tin

 Nếu có người ác hạnh như vậy

 Ở đâu cũng bị quở đuổi xua

 Người ấy mang nhiều những bịnh khổ

 Thường bị gậy gộc đánh xua đuổi

 Thường bị đói khát làm khổ thân

 Mọi người ngó thấy đều khinh rẻ

 Nếu nghe như vậy nhiều khổ lụy

 Phải bỏ các ác tâm điều phục

 Đối với chúng sanh làm điều lành

 Chớ để ngày sau phải ăn năn

 Nếu người mến kính Phật Thế Tôn

 Thánh chúng trì giới pháp đầu đà

 Các ông phải siêng cầu hạnh ấy

 Phải xa quyến thuộc và lợi danh

 Danh lợi điên đảo như huyễn hoá

 Phải xem hữu vi như mộng mơ

 Ân ái hiệp hội tất biệt ly

 Tất cả hữu vi chẳng bền lâu

 Chớ bỏ chánh cần căn lực thảy

 Siêng cầu các môn Ba la mật

 Trong khi chưa chứng diệu Bồ đề

 Thường phải tu tập tất cả hạnh”.

 

Đức Phật lại bảo Hộ Quốc Bồ Tát rằng: “Nầy thiện nam tử ! Đời vị lai, những người tu hạnh đại thừa Bồ Tát, nếu có các lỗi như vậy thì phải tự rời xa và xa rời những kẻ có ác lỗi như vậy.

 

Những người tự chẳng siêng tu mà quen gần cùng người có ác lỗi ấy, chẳng siêng gìn chánh hạnh tự làm siểm khúc và thân cận kẻ siểm khúc, tự không trí huệ và tùy thuận kẻ không trí huệ, tham cầu thế lợi không bao giờ biết chán tham mến nhà tục, ganh ghét kẻ hơn mình, siểm khúc trá ngụy không khổ không thẹn, dối hiện thánh tướng tự tôn tự trọng, đều riêng tự khen tặng quyến thuộc mình để cầu danh lợi, vì cầu lợi dưỡng nên thường vào thành thị, chẳng thương tất cả chúng sanh cũng chẳng vài giáo hoá tất cả chúng sanh mà thường tự nói rằng : tôi có bình đẳng luôn ý niệm như vậy ai biết được, tôi là chơn thiện tri thức của chúng sanh, tôi là bực đa văn, mà thiệt ra đối với Phật pháp họ không có lòng cung kính không có lòng cầu pháp như đồ hư bể không còn dùng được, như người lười biếng không làm xong việc gì, tìm lỗi của nhau làm các phương tiện vô trí giải đãi suy tưởng quấy ác cùng nhau thảo luận các sự phá pháp, cố chấp ác tâm đến chết chẳng bỏ, tham xan chứa họp nhiều, quyến thuộc được nuôi cũng học như vậy mà quây quần nhau ở trong Phật pháp.

 

Hành giả như vậy phàm có làm sự gì chẳng hỏi bực minh triết chẳng cầu Phật pháp. Vì không tinh tấn nên sanh nhà nghèo cùng, từ nhà nghèo cùng mà được xuất gia, ở trong Phật giáo được chút lợi dưỡng sanh lòng vui mừng mà không hổ thẹn. Bọn ấy còn không có lòng sám hối làm sao có được thắng trí tự giác. Bọn ấy tự bỏ công đức chư Phật mà lấy danh lợi hiện tại. Vì được danh lợi hiện tại nên tự nói tôi là Sa Môn.

 

Nầy Hộ Quốc ! Với hạng người như vậy, Phật còn chẳng nói họ có tùy thuận thục nhẫn, huống là có được đại trí chư Phật. Hạng ấy còn xa Nhơn đạo, Thiên đạo, huống là thành được Phật đạo.

 

Nầy Hộ Quốc ! Hạng người ấy, Phật nói có tám thứ pháp chướng ngại Bồ đề:

 

Một là sẽ sanh vào ba ác đạo.

Hai là sẽ sanh nhà nghèo cùng.

Bốn là nhan sắc chẳng đoan chánh.

Năm là ngu si không trí huệ.

Sáu là thường hội họp với các ác tri thức.

Bảy là nhiều bịnh hoạn.

Tám là bị ác bịnh nặng đến chết.

 

Nầy Hộ Quốc ! Tám điều ấy chướng ngại Bồ đề.

 

Nầy Hộ Quốc ! Phật chẳng nói chỉ có ngôn thuyết mà được Bồ đề. Phật chẳng nói dối hiện tướng thánh mà có tịnh hạnh. Phật chẳng nói kẻ siểm khúc mà có Bồ đề hạnh. Phật chẳng nói kẻ tham nhiều lợi dưỡng mà có hạnh cúng dường Phật. Phật chẳng nói kẻ ngã mạn mà có hạnh Bát Nhã thanh tịnh. Phật chẳng nói kẻ vô trí mà quyết được nghi cho người. Phật chẳng nói kẻ đố kỵ mà có hạnh tinh tấn. Phật chẳng nói kẻ không tinh tấn mà có các hạnh đà la ni. Phật chẳng nói kẻ chẳng ưa công đức mà được hạnh thiện đạo. Phật chẳng nói kẻ tham luyến nhà thế tục mà có hạnh thân tâm thanh tịnh. Phật chẳng nói kẻ dối hiện oai nghi mà gặp được Phật hội. Phật chẳng nói kẻ ưa nhà tục mà có hạnh khẩu nghiệp thanh tịnh. Phật chẳng nói kẻ chẳng cung kính mà có hạnh tâm thanh tịnh. Phật chẳng nói kẻ chẳng tri túc mà có ưa pháp hạnh. Phật chẳng nói kẻ tiếc thân mạng mà có hạnh cầu chánh pháp.

 

Nầy Hộ Quốc ! Dầu Phật có quở rầy lục sư nhưng các nhà ngoại đạo ấy ở ngoài Phật pháp. Còn kẻ vào trong Phật pháp mà làm ác nghiệp tội lỗi đáng quở trách còn hơn lục sư kia gấp bội. Tại sao, vì hạng người ấy chỉ có miệng nói tôi là Tỳ Kheo mà lấy vô hạnh khi dối tất cả Trời Người thế gian vậy”.

 

Muốn tuyên lại nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 

“Oai nghi trược loạn không cung kính

Chỉ thêm ngã mạn tham danh dự

Phiền não che đậy lòng mê say

Hạng ấy xa lìa diệu Bồ đề

Tham đắm danh lợi và giải đãi

Tăng trưởng giải đãi mất chánh niệm

Nếu không chánh niệm mất trì giới

Nếu không trì giới mất thiện đạo

Người ấy sanh vào nhà nghèo cùng

Được xuất gia rồi ham lợi dưỡng

Như người vứt bỏ báu hoàng kim

Vác mang cỏ dơ cho là báu

Vì cầu danh lợi ở núi rừng

Đến đó lại cầu các đồng bạn

Vứt bỏ thần thông trí biện tài

Cầu danh lợi hiện tại quyến thuộc

Hạng ấy mạng chung đọa ác đạo

Hoặc sanh trong nhà nghèo hạ tiện

Giải đãi xấu xa không oai đức

Đây đều do ngã mạn nhận chịu

Họ đã xa lìa các hạnh lành

Cũng bởi phóng dật mất chánh niệm

Ở mãi trong các đại ác đạo

Ức ngàn vạn kiếp chưa thoát được

Nếu cầu danh lợi nước Bồ đề

Thì Điều Đạt kia ưng là Phật

Gió mạnh tì lam thổi nát vật

Giải đãi không giới cũng như vậy

Tự không hạnh lành tham nữ sắc

Không tịnh giới hạnh mất công đức

Ở trong pháp Phật không chỗ dùng

Kẻ vô trí ấy như gỗ mục

Nếu vì Bồ đề cầu Phật pháp

Đâu được chẳng y hạnh giải thoát

Dường như keo nhựa trói khỉ vượn

Ngã mạn cầu đạo cũng như vậy

Xưa ta vì cầu một câu pháp

Vứt bỏ thân mạng vì Bồ đề

Kẻ ấy giải đãi bỏ Phật giáo

Không chút lợi ích nơi Phật pháp

Xưa ta vì cầu nước thiện giáo

Nhảy xuống gộp cao nhảy vào lửa

Ta được nghe pháp làm như pháp

Vứt bỏ tất cả ái tắng thảy

Kẻ ấy được nghe Phật công đức

Chẳng từng ưa thích một câu pháp

Không pháp làm sao được Bồ đề

Như trước kẻ mù nói đường sá”.

 

Đức Phật lại bảo Hộ Quốc Bồ Tát : “Nầy thiện nam tử ! Ta nhớ quá khứ vô số kiếp, lại quá vô số lượng bất khả tư bất khả ví dụ bất khả kế bất khả thuyết kiếp, bấy giờ có Phật xuất thế hiệu Thành Lợi Huệ Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác.

 

Bấy giờ có vua tên Diệm Ý. Này Hộ Quốc ! Thuở vua Diệm Ý trị vì thì Diêm Phù Đề này ngang rộng một vạn sáu ngàn do tuần, có hai vạn thành, mỗi thành có ngàn câu chi nhà.

 

Thành của vua Diệm Ý ngự tên là Bửu Quang Minh rộng Đông Tây mười hai do tuần, Nam Bắc bảy do tuần, bằng thất bửu, bảy lớp tường báu bao quanh, mỗi tường cách nhau bảy bộ vững chắc khó phá.

 

Nầy Hộ Quốc ! Dân chúng nước ấy thọ mười câu chi na do tha tuổi.

 

Nầy Hộ Quốc ! Vua Diệm Ý ấy sơ sanh một con trai tên Phước Diệm đoan chánh xinh đẹp có đủ tướng tốt thế gian vô song người xem không chán.

 

Ngày Phước Diệm sơ sanh, chỗ sanh ấy tự nhiên cáo tạng bảy báu xuất hiện cao bằng bảy người. Giờ Vương Tử ấy sanh, tất cả chúng sanh ở Diêm Phù Đề đều hoan hỉ hớn hở vô lượng. Nếu có ai bị tù gông trói tự nhiên tháo mở.

 

Nầy Hộ Quốc ! Trong bảy ngày, Vương Tử Phước Diệm học thành cả công xảo nghệ thuật thế gian.

 

Một hôm vào lúc khuya vắng, trời Tịnh Cư đến bảo Vương Tử Phước Diệm, nầy Đồng Tử chớ phóng dật nên khéo quán vô thường. Nầy Đồng Tử mạng chẳng dừng lâu đến nơi đời sau, thời gian qua mau hằng phải quan sát sanh lòng rất lo sợ, tạo nghiệp tất thọ báo như bóng theo hình”.

 

Trời Tịnh Cư lại vì Vương Tử mà nói kệ:

 

“Đồng Tử cẩn thận chớ phóng dật

Cũng chớ tùy thuận kẻ phóng dật

Vứt bỏ phóng dật được Phật khen

Nếu thọ phóng dật bị Phật quở

Thường tự điều thuận chẳng phóng dật

Tất cả hay thí không tật đố

Từ bi thương xót các chúng sanh

Người ấy chẳng lâu sẽ thành Phật

Quá khứ vô lượng Phật

Hiện tại và vị lai

Đều từ thiện phát khởi

An trụ đạo bất dật

Ăn uống và y phục

Vàng bạc anh lạc thảy

Đều bố thí cả kiếp

Để cầu đạo vô thượng

Tay chưn và mắt mũi

Ai xin vui lòng cho

Thiệt tâm cầu công đức

Chẳng lâu được thành Phật

Ngôi vua nhiều oai thế

Vợ con và quyến thuộc

Hữu vi như huyễn hóa

Mau xả chớ luyến tiếc

Thọ mạng chẳng dừng lâu

Như đồ đất dễ hư

Tạm mượn đời chẳng lâu

Đây cũng không thường tịnh

Cha mẹ và quyến thuộc

Ác đạo không cứu được

Chúng sanh tạo thiện ác

Như bóng luôn theo hình

Cầu nhiều nơi biển dục

Hại nhau chẳng làm lợi

Mà không ai cứu vớt

Luống chịu khổ nhọc mệt

Nay muốn làm lợi tha

Cầu đạo tịch vô thượng

Xương thịt có khô gầy

Ông chớ cho là khổ

Chư Phật xuất thế khó

Pháp tịch diệt khó nghe

Siêng thờ thiện tri thức

Hay phá được chúng ma

Bỏ rời ác tri thức

Hay ở nơi chánh đạo

Ngăn che đường ác tà

Lành thay siêng tinh tấn

Ông chớ tiếc thân mạng

Giữ lòng như kim cương

Chánh hỏi đạo nơi thầy

Chớ bỏ ý chánh ý

Tất cả Phật quá khứ

Thường ưa a lan nhã

Ông phải thuận học theo

Phải ưa ở rảnh vắng

Vứt bỏ nơi ân ái

Vợ con và quyến thuộc

Thân mình và thọ mạng

Để cầu trí lớn rộng”.

 

Nầy Hộ Quốc ! Vương Tử Phước Diệm nghe chư thiên nói kệ xong, trong mười năm chưa hề ngủ nghỉ, chưa hề chơi cười, chưa hề ca vũ, chưa hề vui mừng, chưa hề hớn hở, chưa hề phóng dật, chẳng vào vườn chơi, chẳng thích quyến thuộc, chẳng tham vương vị, nơi của cải thành ấp chẳng có lòng ưa luyến, tất cả các vật trong thân đều vứt bỏ, chỉ nhập thiền định, ở nơi nhà vắng vẻ suy nghĩ tất cả pháp vô thường không bền không vững tạm có rồi mất, ngôi vua vô vị không thiệt tự tại, ân ái biệt ly, oán ghét hội ngộ, không đáng tham ưa mà vọng sanh mến luyến đều do ngu si hư vọng phỉnh dối không có một chút thiệt, chỉ có giải thoát tịch diệt là vui thôi, mà hàng phàm phu bị ngu si làm say nên thường thích ở nơi ấy ngang sanh ra tướng ưu liệt, nay tôi ở trong chúng phàm ngu nầy phải ở lặng yên suy nghĩ chẳng phóng dật.

 

Nầy Hộ Quốc ! Bấy giờ vua Diệm Ý vì Vương Tử Phước Diệm mà lập thành khác tên Thắng Hỉ Lạc có bảy vòng tường báu bao quanh, Nam Bắc thành ấy có bảy trăm đường phố tường vách bằng bảy báu giăng che với linh vàng lưới báu, trên lại giăng các lưới chơn châu, mỗi đầu đường đều có tám vạn bốn ngàn trụ báu, trên các trụ báu cột sáu vạn dây báu móc liền nhau, trong khoảng dây có mười bốn câu chi cây đa la báu, gió nhẹ thổi động vang âm thanh vi diệu như trăm ngàn âm nhạc chẳng trổi tự kêu. Mỗi đầu đường phố an trí năm trăm đồng nữ niên thiếu khỏe mạnh giỏi ca vũ được mọi người yêu thích. Vua Diệm Ý truyền các đồng nữ ấy từ nay trở đi luôn ca vũ ngày đêm khiến mọi người vui vẻ, người bốn phương đến thành đều phải làm cho tầt cả đều vui thích, không được phát ngôn thô tháo dầu là một tiếng.

 

Lại muốn làm vui lòng Vương Tử Phước Diệm, trước đầu phố, vua cho an trí mọi thứ bố thí, như y phục, đồ ăn uống, an lạc, giường nệm, xe cộ voi ngựa bò dê, vàng bạc bảy báu, các thứ hương hoa. Người xin cần gì thì cho thứ ấy. Vua lại đặt ở các nơi an trí nhiều đống châu báu để cho mọi người tùy ý thọ dùng.

 

Trong thành Thắng Hỉ Lạc ấy xây nhiều cung điện để vương tử dạo chơi, đất lát bằng các thứ báu xen nhau. Trên thành xây lầu cao lớn châu báu trang nghiêm. Trung ương thành xây một điện lớn, trong điện an trí ngàn vạn giường nệm, bốn phía điện lập nhiều vườn đầy hoa quả. Trong vườn tạo ao bảy báu, bốn mặt ao có đường thềm bốn báu là vàng bạc lưu ly và pha lê, mỗi mặt ao có hai sư tử bằng trăm thứ báu thường phun nước thơm vào trong ao, lại có hai sư tử báu ở mỗi mặt ao dẫn nước ra. Trong ao thường có bốn thứ hoa sen, hoa sen xanh, hoa sen vàng, hoa sen đỏ và hoa sen trắng. Bốn bờ ao có cây báu bao quanh, lại có nhiều cây bông trái. Lại có tám trăm cây báu liên kết nhau bằng những dây báu treo những phan lụa màu, lại có số ức cây đa la báu, khoảng cách giăng dây báu treo những linh báu bằng vàng, gió nhẹ khua động vang tiếng vi diệu như trăm ngàn âm nhạc chẳng đánh tự kêu. Vì sợ bụi bặm nên trên ao giăng lưới báu lớn.

 

Trong đại điện ấy an trí ngàn vạn giường bảy báu, trên mỗi giường đều trải năm trăm thứ nệm. Giữa đại điện đặt một tòa ngồi cao bằng bảy báu cao bằng bảy người đứng. Trên tòa báu ấy trải tám vạn câu chi y phục vi diệu, trước tòa đặt lư hương báu đốt hương trầm thủy, đêm ba thời ngày ba thời rải hoa đẹp.

 

Dùng màn lưới vàng giăng trên điện báu, bên màn treo hoa sen vàng, lại dùng màn chơn châu giăng trên màn vàng. Có tám vạn trân bửu sáng sạch để làm ánh sáng.

 

Trong vườn lại đặt chín trăm vạn khối báu, mỗi khối báu cao một do tuần chiếu sáng toàn cõi ấy.

 

Trong vườn có các giống chim như: anh võ, cù dục, hồng nhạn, chim câu hệ la, khổng tước, nga nhạn, oan ương, câu na la, ca lăng tần già, chim mạng mạng, lúc muốn kêu đều nói tiếng người vi diệu hòa nhã như tiếng chim trong vườn hoan hỉ của Chư Thiên, các chim nầy kêu hót đều để làm vui Vương Tử.

 

Vua lại vì Vương Tử mà xây dựng nhà ăn, mỗi ngày sắm sửa năm trăm thức ăn để cung cấp Vương Tử.

 

Vua lại triệu tập các đồng tử trong nước số đông đến tám mươi câu chi. Các đồng tử ấy hoặc tuổi hai mươi hoặc trên hai mươi đều giỏi tất cả công xảo kỹ nghệ ăn mặc trang nghiêm sạch sẽ đều cho vào thành Thắng Hỷ Lạc. Cha mẹ các đồng tử đưa ngàn vạn câu chi đồng nữ vào hầu các đồng tử. Quyến thuộc của các đồng tử cũng dâng ngàn vạn câu chi đồng nữ theo hầu. Các trưởng giả và nhơn dân cũng đưa ngàn vạn câu chi thể nữ vào hầu. Các thể nữ ấy tuổi mới mười sáu đều xinh đẹp đoan chánh thế gian vô song, đều giỏi âm nhạc ca vũ giỏi làm trò, ngôn ngữ điều nhu, nhan sắc hòa vui đều có thể an ủi kẻ già người trẻ, tất cả nghề khéo đều thông thạo, miệng ra hơi thơm như hoa sen xanh, thân các lỗ lông ra hơi chiên đàn, vi diệu thanh khiết như thiên nữ.

 

Vương Tử Phước Diệm ỏ trong cung điện ấy, chúng thể nữ thường hòa nhạc các thứ cúng dường.

 

Vương Tử nghe âm nhạc ấy nghĩ rằng : các thứ này là oan thù của tôi, cướp đoạt pháp lành của tôi, phải mau rời bỏ.

 

Bấy giờ Vương Tử thấy các sự vui mà lòng chẳng vui chẳng khác người sắp bị sử tử, dầu thấy sắc dục mà lòng chẳng ham, ở giữa chúng thể nữ chẳng vui cùng quyến thuộc tụ hội trong thành cũng chẳng vui, trọn mười năm như vậy chẳng lấy tướng sắc thinh hương vị xúc, chỉ nghĩ rằng lúc nào tôi thoát khỏi cảnh oán thù này, lúc nào tôi hành bất phóng dật để được giải thoát.

 

Chúng thể nữ ấy đem sữ việc trình tâu vua Diệm Ý. Vua cùng tám vạn tiểu vương đồng đến chỗ Vương Tử khóc than buồn khổ té xỉu trên đất. Tỉnh lại, vua Diệm Ý hướng Vương Tử Phước Diệm mà nói kệ rằng:

 

Con có phước báu lớn tối diệu

Với con có ai làm chẳng tốt

Mà con chẳng thọ vui tối thắng

Con chẳng thọ vui cha lo buồn

Mong con thọ vui cho cha mừng

Nếu bị phá rầy nói cha hay

Cha sẽ phạt họ tội rất nặng

Con xem hoa sen đẹp tại đây

Cha suy nghĩ làm cho con

Có thiếu thứ gì con mau nói

Cha hay hiện nên như Đế Thích

Nay mặt mắt con như hoa sen

Sao con nhíu mày chẳng vui thích

Các thể nữ này rất đẹp lạ

Vi diệu thanh tịnh bằng thiên nữ

Các nàng đều giỏi những kỹ thuật

Ca vũ âm nhạc đều hay thông

Con nên cùng vui với thể nữ

Sao con rầu buồn như trúng tên

Nay con nên mau thọ vui sướng

Chẳng phải lúc con lo rầu khổ

Vườn rừng suối ao rất mậu thạnh

Bông trái nhánh lá rất sum sê

Rộng lớn chẳng khác vườn cõi trời

Nay con đương lúc tuổi thiếu niên

Nhan sắc tiều tụy như bông khô

Chỉ nên thọ vui chớ nên khổ

Suối chảy ao tắm như cõi trời

Nước thơm vi diệu tắm rửa thân

Các hoa đua nở bầy ong bu

Nay con cớ sao chẳng ưa vui

Nga nhạn anh võ và hồng hạc

Mạng mạng câu na tiếng vi diệu

Không khác Hương sơn và Tuyết sơn

Có ai nghe thấy chẳng ưa thíc

Thắng điện thất bửu lưới chơn châu

Lưu ly nghiêm tịnh như thiên cung

Tòa báu trang nghiêm trùm y diệu

Linh vàng lưới báu vang tiếng hay

Các thứ âm thanh rất thù đặc

Đường sá phố phường và đầu ngõ

Thể nữ số ngàn tấu âm nhạc

Dường như ngọc nữ vườn hoan hỉ

Sao con mê loạn chẳng thọ vui

Đồng tử thể nữ như chư Thiên

Vì muốn con vui mà tụ họp

Cha mẹ vì con khóc rơi lệ

Sầu lo than thở khổ xiết bao.

 

Vương Tử Phước Diệm nói kệ thưa phụ vương:

 

Như đấng công đức đầy đủ kia

Xem xét hữu vi sanh tử khổ

Nhàm lìa phiền não muốn cầu thoát

Vứt bỏ tất cả những dục lạc

Thấy các chúng sanh vào lưới chết

Thường cầu giải thoát xa dục lạc

Suy gẫm Bồ đề thù thắng nhất

Cúi mong cha mẹ nghe con nói

Không ai làm ác đối với con

Con tự chẳng vui các dục lạc

Tất cả ân ái như oan thù

Thêm lớn phiền não đọa ác đạo

Người ngu ưa thích thể nữ này

Thêm lớn nghiệp ma bị trói buộc

Xa lìa công đức thêm bất thiện

Lại khiến đời sau đọa ác đạo

Các Thánh quở trách ngũ dục nầy

Nay tôi sao lại thích gốc khổ

Các thể nữ này giả ngoại sắc

Chỉ là túi da đựng gân xương

Trong đầy máu thịt cứt đái dơ

Thây chết thúi hôi sao lại thích

Ca vũ âm nhạc kỹ thuật thảy

Như ảo như mộng gạt ngu si

Kẻ ngu phân biệt mất chánh đạo

Con há tùy thuận tạo nghiệp ái

Vườn rừng bông trái đến mùa đông

Héo khô vàng úa đều rơi rụng

Vô thường tan hư chẳng còn lâu

Thọ mạng vô định si phóng dật

Tâm như đại hải chẳng tri túc

Ân ái thêm lớn cầu không nhàm

Thường bị dục nhiễm tàn hại nhau

Con như Tu Di gió chẳng động

Cha mẹ anh em và chị em

Vợ con bạn bè các quyến thuộc

Ngôi vua bá quan và thế lực

Nếu đọa ác đạo chẳng cứu được

Chúng ta ngày nay như giọt sương

Cũng như ánh chớp chẳng tạm dừng

Tâm ý tán loạn không chỗ định

Suy thấy như vậy nên siêng tu




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog