Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo


Nam-Mô Đại Bảo-Tích  Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

KINH ĐẠI BẢO TÍCH


QUYỂN 30



PHÁP HỘI

XUẤT HIỆN QUANG MINH

THỨ MƯỜI MỘT

 

 Như vậy, tôi nghe một lúc đức Phật ở taị nuí Kỳ Xà Quật ngoài thành Vương Xá câu hội vớichúng đại Tỳ Kheo năm trăm người, tất cả đều được đại tự tại. Lại có tám mươi na do tha đại BồTát đều là bậc nhất sanh bổ xứ, Di Lặc Bồ Tát làm thượng thủ. Lại có bốn mươi na do tha đại BồTát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm thượng thủ.

 

 Lúc ấy trong đại hội có một đồng tử tên Nguyệt Quang rời chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu, quỳ gối hữu đảnh lễ chưn đức Phật, chắp tay cung kính bạch rằng : Bạch đức Thế Tôn ! Thuở xưa đức Như Lai tu hạnh nghiệp gì mà có thể được các quang minh như là quyết định quang minh, nhiếp thủ quang minh, phát khởi quang minh, hiển hiện quang minh, chủng chủng sắc quang minh, vô tạp sắc quang minh, hiệp tiểu quang minh, quảng đại quang minh, thanh tịnh quang minh, hiến thanh tịnh quang minh, vô cấu quang minh, cực vô cấu quang minh, ly cấu quang minh, tiệm tăng trưởng quang minh, tiển tịnh quang minh, cực tiển tịnh quang minh, vô biên quang minh, cực vô biên quang minh, vô lượng quang minh, cực vô lượng quang minh, vô số lượng quang minh, cực vô số lượng quang minh, tốc tật quang minh, cực tốc tật quang minh, vô trụ quang minh, vô sứ quang minh, xí thạnh quang minh, chiếu diệu quang minh, ái nhạo quang minh, đáo bỉ ngạn quang minh, vô năng chướng quang minh, bất động quang minh, cháng trực quang minh, trụ vô biên xứ quang minh, sắc tướng quang minh, chủng chủng sắc tướng quang minh, vô lượng sắc tướng quang minh, thanh huỳnh xích bạch sắc tướng quang minh, hồng sắc tướng quang minh, pha lê sắc tướng quang minh, hư không sắc tướng quang minh. Các thứ quang minh như vậy , mỗi quang minh đều cùng ngũ sắc quang minh hoà hiệp hiển hiện, nhẫn đến các sự xanh vàng đỏ trắng v.v... mỗi sự cũng cùng vô lượng vô biên các thứ sắc quang hòa hiệp hiển hiện_.

 

 Đức Thế Tôn vì Nguyệt Quang mà nói kệ rằng :

 

 Ta dùng bất tư nghị

 Nghiệp lành làm nhơn duyên

 Xa lìa những mê hoặc

 Nên được các quang minh

 Lại dùng nhiều công hạnh

 An trụ trong Phật đạo

 Dùng huệ không vô tác

 Hiện hòa hiệp quang minh

 Ví như trong ngoại pháp

 Các thứ tướng sai khác

 Trong ấy không vô ngã

 Không tác không tâm ý

 Lại như trong nội thân

 Không vô ngã vô tác

 Trong ấy thị hiện được

 Nhiều thứ loại âm thanh

 Do vô tác như vậy

 Hiện vô biên sắc quang

 Tùy theo chỗ sở thích

 Đều làm cho đầy đủ

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh hai mầu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Mà hiển hiện sai khác

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh ba mầu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Mà hiển hiện sai khác

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh bốn màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Mà hiển hiện sai khác

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh năm màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ tịnh nghiệp phát sanh

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh sáu màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ phương tiện phát sanh

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh bẩy màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ thiện nghiệp phát sanh

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh tám mầu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ thắng thiện phát sanh

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh chín mầu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ tư lương phát sanh

 Hoặc trong một quang minh

 Xuất sanh mười màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ bố thí phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh hai mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ trì giới phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh ba mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ nhẫn nhục phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh bốn mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ tinh tiến phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh năm mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ thiền định phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh sáu mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ trí huệ phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh bẩy mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tâm từ phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh tám mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tâm bi phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh chín mươi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tâm hỉ phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh trăm màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tâm xả phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Xuất sanh ngàn màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ ngàn công đức sanh

 Hoặc có trong một sự

 Xuất sanh muôn màu sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Từ phước tư lương sanh

 Hoặc có trong một sự

 Hiện một câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tịnh tín phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện hai câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tùy hỉ phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện ba câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do khinh an phát sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện bốn câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tôn trọng Phật sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện năm câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tôn trọng Pháp sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện sáu câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tôn trọng Tăng sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện bảy câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tôn trọng giới sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện tám câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do tôn trọng Định sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện chín câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do khắp thương mến sanh

 Hoặc ở trong một sự

 Hiện mười câu chi sắc

 Đều có thượng trung hạ

 Do không phóng dật sanh

 Hoặc từ một lỗ lông

 Hiện ra các quang minh

 Quang ấy có nhiều tên

 Nay sẽ nói cho ông

 Phật có một quang minh

 Tên là Vân tịnh chiếu

 Quang ấy do tích tập

 Vô lượng thiện căn sanh

 Bởi từ thuở xa xưa

 Thấy có những chúng sanh

 Mắc nhiều bịnh đau khổ

 Ta sanh lòng thương sót

 Cấp cho các y dược

 Làm cho họ lành bịnh

 Do bởi nhân duyên ấy

 Mà được quang minh này

 Phật lại có quang minh

 Tên là Nhãn thanh tịnh

 Đem đèn sáng cúng Phật

 Nên được quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Nhĩ thanh tịnh

 Đem âm thanh cúng Phật

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Tỷ thanh tịnh

 Đem nước thơm cúng Phật

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Thiệt thanh tịnh

 Đem thượng vị cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Thân thanh tịnh

 Đem y phục cúng dường

 Nên sanh quanh minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Tâm thanh tịnh

 Thường tin mến nơi Phật

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là sắc thanh tịnh

 Họa vẽ hình tượng Phật

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Thanh thanh tịnh

 Thường ca ngợi chánh pháp

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Hương thanh tịnh

 Thường cung kính chư Tăng

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Vị thanh tịnh

 Tùy ý đều thí ban

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Xúc thanh tịnh

 Đem hương hoa cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Pháp thanh tịnh

 Do nhiếp thọ các pháp

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Địa thanh tịnh

 Quét rửa đất Phật Tăng

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quanh minh

 Tên là Thủy thanh tịnh

 Đem giếng suối cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Hỏa thanh tịnh

 Cầm lửa đem cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Phong thanh tịnh

 Cầm quạt đem cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh nầy

 Tên là Uẩn thanh tịnh

 Đem thân cúng dường Phật

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Giới thanh tịnh

 Vì thường tu tâm từ

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Đế thanh tịnh

 Vì thường lìa vọng ngữ

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Sát thanh tịnh

 Thường làm sự bố thí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Thanh thanh tịnh

 Do ca ngợi đức Phật

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Niệm thanh tịnh

 Do khen ngợi tam muội

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Biện thanh tịnh

 Do khen đà la ni

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Nhựt hòa hiệp

 Do hòa hiệp tranh cãi

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là hiển hiện nghĩa

 Do thông đạt không tánh

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Thanh sắc tướng

 Đem sen xanh cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Huỳnh sắc tướng

 Đem Chiên bặc cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Xích sắc tướng

 Đem chơn châu cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Bạch sắc tướng

 Đem kim hoa cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Thắng công đức

 Dùng nhiều màu nghiêm sức

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Long oai lực

 Đem lọng phan cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Tượng oai lực

 Đem tượng phan cúng dường

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Sư tử vương

 Đem sư tử phan cúng

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Ngưu vương quang

 Đem ngưu vương phan cúng

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Nguyệt thanh tịnh

 Quét rửa tháp thờ Phật

 Nên sanh quanh minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Long điều phục

 Đem giải lụa cúng thí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên Dạ Xoa điều phục

 Bởi hay quan sát kỹ

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Giác ngộ nữ

 Bởi rời lìa nữ tướng

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Giác ngộ nam

 Bởi rời lìa nam tướng

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên Kim cương oai lực

 Do nghiệp trí thanh tịnh

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Hiển hiện không

 Do khai thị thế báo

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên Giác ngộ chơn thiệt

 Do rời lìa điên đảo

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên Hiển thị Phật ngữ

 Do khen ngợi pháp giới

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Ly chư quá

 Do khen ngợi thắng giải

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên Trang Nghiêm Phổ Chiếu

 Do khen thí đèn đuốc

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Ly ân ái

 Do khen ngợi định huệ

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Ly chư tập

 Do khen tiền tế chí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Ly chư trước

 Do khen vô sanh trí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Ly chư thú

 Do khen lậu tận trí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Xả ly xứ

 Do khen ngợi khổ trí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Phật thần biến

 Do khen thần thông lực

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Siêu hí luận

 Do khen nhứt thiết trí

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Hiện chứng sắc

 Do khen ngợi thần túc

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Lạc thiện hữu

 Do khen ngợi giác tánh

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Nhãn tiền tế

 Do khen nhãn tìền tế

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Nhãn tận tế

 Do khen ngợi vô tận

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Hữu tế quang

 Do khen ngợi vô hữu

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Bất khả hoại

 Bởi khen ngợi diệt tánh

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Vô biên tế

 Do khen ngợi vô tế

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Vô tướng quang

 Do khen ngợi vô vi

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là vô biến dị

 Do khen vô sai biệt

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên đó là Bất nhập

 Do khen ngợi vô trước

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Gọi là Bất xuất quang

 Do khen ngợi vô khởi

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật lại có quang minh

 Tên là Vô khởi quang

 Do khen chẳng xuất hiện

 Nên sanh quang minh nầy

 Phật có quan tên Vô biểu thị

 Hay thành thục được các quần sanh

 Phật có quang tên Pháp bổn tánh

 Quang ấy chấn động câu chi cõi

 Phật có quang tên Điều phục ma

 Quang ấy oai đức làm ma sợ

 Phật có quang tên Phước đức tràng

 Người trì tên ấy khỏi nguy ách

 Phật có quang tên Hữu lực tràng

 Người trì tên ấy khỏi oán thù

 Phật có quang tên Tịch tịnh tràng

 Người trì tên ấy khỏi tham dục

 Phật có quang tên Thiền định tràng

 Người trì tên ấy khỏi tà hạnh

 Phật có quang tên Đa văn tràng

 Người trì tên ấy được khen ngợi

 Phật có quang tên Duyệt ý tràng

 Người trì tên ấy không lo sầu

 Phật có quang tên Tịnh giới tràng

 Người trì tên ấy khỏi phá giới

 Phật có quang tên Diệu hương tràng

 Người trì tên ấy khỏi hôi dơ

 Phật có quang tên Pháp thậm thâm

 Người trì tên ấy không nghi hoặc

 Phật có quang tên Vô sở trụ

 Người trì tên ấy khỏi ba cõi

 Phật có quang tên Ly phân biệt

 Người trì tên ấy không chấp lấy

 Phật có quang tên Diệu cao sơn

 Người trì tên ấy không bị động

 Phật có quang tên Bí mật hạnh

 Người trì tên ấy không sở trước

 Phật có quang tên Giải thoát hạnh

 Người trì tên ấy không hệ phược

 Phật có quang tên Thiện điều phục

 Người trì tên ấy được điều nhu

 Phật có quang tên Vô động diêu

 Người trì tên ấy khỏi tham nhiễm

 Phật có quang tên Thiện điều thuận

 Người trì tên ấy giới viên mãn

 Phật có quang tên Chúng thiện hạnh

 Người trì tên ấy không sở nhiễm

 Phật có quang tên Đa lợi ích

 Người nghe tên ấy khỏi các lỗi

 Phật có quang tên Thắng tri kiến

 Người nghe tên ấy không mê hoặc

 Phật có quang tên Cầu lợi ích

 Người nghe tên ấy không giận dữ

 Phật có quang tên Tâm thích duyệt

 Người nghe tên ấy được an vui

 Phật có quang tên Vô nhiệt não

 Người trì tên ấy biết không tánh

 Phật có quang tên Không vô tánh

 Người trì tên ấy siêu hí luận

 Phật có quang tên Vô y chỉ

 Người trì tên ấy chẳng động lay

 Phật có quang tên Ly mê hoặc

 Người trì tên ấy chẳng do dự

 Phật có quang tên Vô trụ sứ

 Người trì tên ấy khỏi ngu tối

 Phật có quang tên Yểm nhục thân

 Người trỉ tên ấy sẽ chẳng thọ

 Phật có quang tên Vô sở thủ

 Người trì tên ấy lìa văn tự

 Phật có quang tên Vô hữu si

 Người trì tên ấy lìa ngôn thuyết

 Phật có quang tên Vô khứ xứ

 Người trì tên ấy biết vị lai

 Phật có quang tên Phổ biên tế

 Người trì tên ấy biết quá khứ

 Phật có quang tên Vô dữ đẳng

 Người trì tên ấy biết vô lậu

 Phật có quang tên Chúng thánh giả

 Người trì tên ấy biết tối thượng

 Phật có quang tên Vô cấu nhiễm

 Người trì tên ấy lìa chấp trước

 Phật có quang tên Ly trần buộn

 Người trì tên ấy không tối che

 Phật có quang tên Vô ái luyến

 Người trì tên ấy lìa sở y

 Phật có quang tên tối thắng thượng

 Người trì tên ấy dẹp dị luận

 Phật có quang tên Diệu tráng niên

 Người trì tên ấy thành sáu hạnh

 Phật có quang tên Tối tôn thắng

 Người tri tên ấy trí vô ngại

 Phật có quang minh tên Tốc tật

 Người trì tên ấy thành thắng Tăng

 Phật có quang minh tên Hữu tướng

 Người trì tên ấy biết thâm pháp

 Phật có quang minh tên Vô tướng

 Người trì tên ấy lìa kiêu mạn

 Phật có quang minh tên vô sanh

 Người trì tên ấy được vô đắc

 Phật có quang minh tên Niệm Phật

 Được chư Như Lai thường khen ngợi

 Ở nhiều chỗ Phật tu các hạnh

 Mới được thành quang minh như vậy

 Thân Phật hiện ra các quang minh

 Số vi trần ngàn câu chi cõi

 Vô lượng chi câu cõi như vậy

 Số ấy lại như cát đại hải

 Mỗi mỗi vi trần những quang minh

 Đều có bao nhiêu những quyến thuộc

 Quang ấy chiếu khắp cõi không Phật

 Hóa làm thân Như Lai thanh tịnh

 Diễn nói pháp thậm thâm vi diệu

 An trụ trong chúng sanh nhẫn nhục

 Phật có quang minh tên là Phật

 Khiến các chúng sanh trụ Phật đạo

 Phật có quang minh tên là Pháp

 Thanh tịnh chiếu sáng không vết nhơ

 Phật có quang minh tên là Tăng

 Được chư Phật Như Lai khen ngợi

 Phật có quang minh tên thanh tịnh

 Quang ấy thù thắng rất khó được

 Phật có quang minh tên là Hoa

 Lợi ích chúng sanh được thành thục

 Phật có quang minh tên là Phạm

 Hoặc tên Đế Thích hoặc tên Thiên

 Tên Nguyệt tên Long tên Dạ Xoa

 Tên A Tu La, Ca Lâu La

 Hoặc tên là Vương tên Phụ nữ

 Hoặc tên Đồng nữ tên Đồng nam

 Các thứ quang minh của Phật ấy

 Đều có pháp lành độ đồng loại

 Hay khiến vô lượng câu chi chúng

 Đều được thành tạo đạo Bồ đề

 Phật có quang minh tên Trí huệ

 Hoặc có tên Giới hoặc tên Từ

 Hoặc tên Bi tên Hỉ tên Đăng

 Hoặc hiệu Đồ Hương hoặc Âm Nhạc

 Những loại quang minh của Phật ấy

 Đều tùy bổn hạnh làm tên nó

 Đều nhiếp vô lượng loại chúng sanh

 Do đó thành tựu quang minh ấy

 Phật có quang minh tên Tôn trọng

 Được chư Phật Như Lai khen ngợi

 Với Phật giáo pháp thường cung kính

 Do đó thành tựu quang minh ấy

 Phật nhãn ngó thấy số chúng sanh

 Một lỗ lông hiện bao nhiêu quang

 Mà mỗi mỗi các quang minh kia

 Đều có quyến thuộc đồng vây quanh

 Tùy các chúng sanh tâm họ niệm

 Nhờ quang minh Phật đều thành thục

 Nếu được nghe nói quang minh ấy

 Hay sanh lòng mừng rất mến thích

 Người này thuở xưa chỗ chư Phật

 Đã từng được nghe kinh như vậy

 Phật có quang minh tên Tối thắng

 Quyến thuộc số tám mươi câu chi

 Xưa từng một kệ khen ngợi Phật

 Thế nên thành tựu quang minh ấy

 Phật có quang minh tên Vô ưu

 Quyến thuộc tám mươi na do tha

 Trì pháp của một Như Lai nói

 Thế nên thành tựu quang minh ấy

 Phật có quang minh tên Thắng tịnh

 Quyến thuộc số tám mươi câu chi

 Nếu thọ trì được một tam muội

 Thế nên thành tựu quang minh ấy

 Quá khứ có Phật tên là Tối Thắng

 Phật ấy trụ thế thọ vô lượng tuổi

 Tối sơ thành đạo ở trong pháp hội

 Chúng có tám mươi na do tha số

 Lúc ấy ở tại Diêm Phù Đề này

 Có một Quốc Vương tên là Lạc Thanh

 Vua ấy lại có năm trăm Vương Tử

 Dung nhan đoan chánh người thấy đều mừng

 Lúc ấy Quốc Vương oai đức tự tại

 Đối với Tam Bửu lòng rất mến tin

 Vườn tược thắng diệu của Quốc Vương có

 Đều đem phụng thí cho Phật Tối Thắng

 Ở chỗ kinh hành trong vườn tược ấy

 Lại có vô lượng cây chiên bặc ca

 Cây câu luật đà, cây chân thúc ca

 Ưu đàm bát la, ba la ba tra

 Cây thi lợi sa và cây vô ưu

 Số cây đều có tám mươi câu chi

 Các cây như vậy đông hạ đều tươi

 Hoa trái cành lá màu sáng bóng tốt

 Hương thơm vi diệu ướp thân Như Lai

 Có các tỳ kheo thân mầu chơn kim

 Các vị đều ngồi dưới rừng cây ấy

 Dũng mãnh tinh tiến được đà la ni

 Đức Phật Tối Thắng thương Quốc Vương ấy

 Và các Vương Tử cùng đại chúng khác

 Nên nói quang minh quyết định như vậy

 Quốc Vương nghe rồi trong lòng vui mừng

 Nói vô lượng kệ khen ngợi Như Lai

 Quốc Vương lại đem tám mươi câu chi

 Lọng báu vi diệu phụng hiến đức Phật

 Mỗi chiếc lọng báu dùng châu ma ni

 Nghiêm sức giáp vòng trong lưới trên lọng

 Châu ma ni ấy mỗi hột giá trị

 Tám mươi câu tri vàng Diêm phù đàn

 Mỗi chiếc lọng ấy có đủ tám mươi

 Câu chi hột châu để làm chuỗi ngọc

 Châu ma ni ấy màu bóng láng nhuần

 Thường phóng ánh sáng cả ngày lẫn đêm

 Mỗi một tia sáng chiếu trăm do tuần

 Sáng ấy chói sáng che lấn nhựt nguyệt

 Lọng ấy còn có tám mươi câu chi

 Dải báu sư tử tám mươi câu chi

 Vòng báu chỉ vàng nghiêm sức bốn mặt

 Lại có nhiều thứ trân kỳ màu đẹp

 Xen lẫn trang nghiêm lưới báu chơn châu

 Dùng lọng như vậy che khắp vườn tược

 Trên ấy lại có hoa tô ma na

 A đề mục đa, mục chơn lân đà

 Ưu đàm bát la thanh niên hoa thảy

 Vô lượng lọng hoa nhiều thứ như vậy

 Mỗi chiếc lọng đều vừa với lưới báu

 Dùng y chỉ vàng tên câu tra ma

 Để làm lọng đẹp che trùm trên ấy

 Giường báu chiên đàn chưn bằng chơn kim

 Số giường cũng có tám mươi câu chi

 Chiếu nệm lụa màu để trải trên giường

 Lúc ấy tất cả các loài chúng sanh

 Đến trời Hữu Đảnh đều đến dự hội

 Ở chỗ Như Lai nghe kinh điển này

 Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà Vương

 Ma Hầu La Già và A Tu La

 Nghe kinh này rồi đều rất vui mừng

 Nói trăm ngàn kệ khen ngợi Như Lai

 Tất cả đều phát nguyện đại Bồ đề

 Chư Thiên, Long thần và A Tu La

 Dùng lòng kính tin mưa hoa mạn đà

 Chơn châu các báu để dâng cúng dường

 Lúc ấy lại có tám mươi câu chi

 Trời Đại Oai Lực nghe kinh này rồi

 Lòng họ vui mừng phát nguyện Bồ đề

 Ở đời vị lai được quang minh ấy

 Đức Phật Tối Thắng biết sở nguyện họ

 Liền thọ ký họ đều sẽ thành Phật

 Lúc đó lại có tám mươi câu chi

 Thích Đề Hoàn Nhơn cùng các Phạm chúng

 Nghe nói kinh điển Hiện Quang như vậy

 Lòng họ vui mừng phát tâm Bồ đề

 Đều được thọ ký đương lai thành Phật

 Lúc đó lại có tám mươi câu chi

 Na do tha Long nghe kinh này rồi

 Phát tâm Bồ đề đều được thọ ký

 Lúc đó lại có tám mươi câu chi

 Kim Sí Điểu Vương nghe kinh này rồi

 Kiên trì ngũ giới cũng được thọ ký

 Lúc đó lại có tám mươi câu chi

 Càn Thát Bà Vương nghe kinh này rồi

 Tấu ngàn thứ nhạc âm thanh vi diệu

 Cúng dường đức Phật được Phật thọ ký

 Lại có tám mươi na do tha số

 Dạ Xoa Qủy Vương nghe kinh này rồi

 Lòng rất kính tin trí huệ của Phật

 Tất cả đều được thọ ký Bồ đề

 Nguyệt Quang nên biết nhà vua Lạc Thanh

 Cúng dường các thứ cho Phật Tối Thắng

 Nào phải người lạ chính là ông đấy

 Ngày xưa ông nhờ nghe kinh điển nầy

 Thế nên hôm nay ông lại thưa hỏi

 Sau ta nhập diệt lúc chánh pháp ta

 Sắp phải diệt hoại với kinh giáo nầy

 Nếu có người nào sanh lòng kính tin

 Thì nói rộng được kinh điển như vậy

 Nếu lúc vị lai nói kinh nầy

 Đó là hộ trì chánh pháp ta

 Dường như người dẫn đường đoàn buôn

 Cũng gọi là hộ trì bửu tạng

 Nếu lúc vị lai nghe kinh nầy

 Lòng vui thích khoảng khẩy ngón tay

 Nên biết đó là oai thần Phật

 Cũng do Ngài Văn Thù gia hộ

 Người ấy là được thấy chư Phật

 Truyền cho bí pháp được sáng suốt

 Nếu người chất trực lòng nhu nhuyến

 Thường siêng cúng dường lên chư Phật

 Tu hành vô ngã lòng từ nhẫn

 Người ấy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người thường cưu lòng bất thiện

 Tham cầu lợi danh không chán đủ

 Nơi pháp tịch tịnh không thích ưa

 Người ấy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người cúng dường chư Như Lai

 Khéo biết rõ được pháp thâm diệu

 Nơi chánh trí Phật lòng kính tin

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người tán loạn lòng không sạch

 Thường làm hàng thịt khó điều phục

 Làm tôi tớ cho các cảnh dục

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người thường thích a lan nhã

 Ở riêng vắng vẻ lòng tịch tịnh

 Chẳng ham lợi danh và thân thuộc

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người tùy thuận bạn xấu ác

 Tổn hại pháp lành của mình người

 Nơi giới và định đều tổn thất

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người chí nguyện và thanh tịnh

 Thường dùng trí huệ quán các pháp

 Được thiện trí thức hộ niệm cho

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người ràng buộc nhà thân hữu

 Mang cho hoa quả khiến hoan hỉ

 Lòng không chánh trực nhiều dua vạy

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người thường nhờ ơn chư Phật

 Nơi thắng thiện căn lòng ưa mến

 Hồi hướng Bồ đề không dua vạy

 Ngưởi nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người luyến mê nơi phụ nữ

 Nhiều y phục đẹp để nghiêm sức

 Thường muốn cùng họ đồng du hí

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người thâm tâm không nương tựa

 Nơi các cảnh dục không hề nhiễm

 Chẳng vì uống ăn mà dua nịnh

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người dẫn dạy các quần sanh

 Mà nói dâm dục không tội lỗi

 Đó là phỉ báng tam thế Phật

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người tín nguyện thường kiên cố

 Pháp khởi tinh tiến cầu thiện pháp

 Chẳng sanh mỏi mệt mà khinh mạn

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người ràng buộc với phụ nữ

 Thường nhớ nghĩ mãi các cảnh dục

 Chẳng tu trí huệ lợi ích rộng

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người ngồi yên ở núi rừng

 Tu tập trí huệ thường thanh tịnh

 Chẳng tham tất cả đồ tư sanh

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu nơi mắt tiền tế hậu tế

 Mà thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy ngu si bị ma ám

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi mắt tiền tế hậu tế

 Thường thông đạt rõ không mê hoặc

 Người nầy thoát khỏi lưới tà ma

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu nơi mắt hữu biên vô biên

 Người thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy ngu si bị ma ám

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu nơi mắt hữu biên vô biên

 Người thường thông đạt không mê hoặc

 Người nầy thoát khỏi lưới tà ma

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn tướng thành hoại

 Mà thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy ngu si bị ma ám

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi mắt tướng thành hoại

 Mà thường thông đạt không mê hoặc

 Người nầy thoát khỏi lưới tà ma

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nhẫn đến tai, mũi, lưỡi, thân, ý

 Sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp

 Địa, thủy, hỏa, phong cùng thể tánh

 Sự vật, chúng sanh và với khổ

 Uẩn, giới, thế sanh, thanh danh, đế

 Tham, sân, si, mạn, ái, phú, kiêu

 Xan, tật, siểm, cuống, phẫn và hận

 Nên biết mỗi mỗi đều như vậy

 Nếu người nơi nhãn tận biên kia

 Mà thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy sa vào hạnh phàm phu

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn tận biên kia

 Mà thường thông đạt không mê hoặc

 Người nầy lìa các hạnh phàm phu

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn diệt hoại kia

 Mà thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy sa vào hạnh phàm phu

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn diệt hoại kia

 Mà thường thông đạt không mê hoặc

 Người nầy lìa các hạnh phàm phu

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn tịch diệt kia

 Mà thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy sa vào hạnh phàm phu

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn tịch diệt kia

 Mà thường thông đạt không mê hoặc

 Người nầy lìa các hạng phàm phu

 Người nầy ưa thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn không khứ lai

 Mà thường mê hoặc chẳng rõ được

 Người nầy sa vào hạnh phàm phu

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người nơi nhãn không khứ lai

 Mà thường thông đạt chẳng mê hoặc

 Người nầy lìa các hạnh phàm phu

 Người nầy ưa thích kinh điển nầy

 Nếu người chẳng rõ nhãn vô ngã

 Nơi nhãn tận tánh thường mê hoặc

 Người nầy sa vào hạnh phàm phu

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người rõ được nhãn vô ngã

 Nơi nhãn tận tánh thường thông đạt

 Người nầy lìa các hạnh phàm phu

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người chẳng rõ nhãn vô ngã

 Nơi nhẫn hành xứ thường mê hoặc

 Người nầy sa vào hạnh phàm phu

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người rõ được nhãn vô ngã

 Nơi nhẫn hành xứ thường thông đạt

 Người nầy lìa các hạnh phàm phu

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu ngườì chẳng rõ nhãn tận tánh

 Họ chẳng thành tựu vô y giới

 Vì chẳng thành tựu vô y giới

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người rõ được nhãn tận tánh

 Họ thành tựu được vô y giới

 Vì đã thành tựu vô y giơí

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người chẳng rõ nhãn tận tánh

 Họ chẳng thành tựu vô lậu giới

 Vì chẳng thành tựu vô lậu giới

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người rõ được nhãn tận tánh

 Họ thành tựu được vô lậu giới

 Vì đã thành tựu vô lậu giới

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người chẳng rõ nhãn tận tánh

 Họ chẳng thành tựu vô lậu huệ

 Vì chẳng thành tựu vô lậu huệ

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người rõ được nhãn tận tánh

 Họ thành tựu được vô lậu huệ

 Vì đã thành tựu vô lậu huệ

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người chẳng rõ nhãn tận tánh

 Nơi nhãn không tánh thường mê hoặc

 Họ chẳng sanh được trí tổng trì

 Người nầy chẳng thích kinh điển nầy

 Nếu người rõ được nhãn tận tánh

 Nơi nhãn không tánh thường thông đạt

 Họ hay sanh được trí tổng trì

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người biết rõ nhãn tận tánh

 Họ thành tựu được trí tổng trì

 Nhẫn đến trí vô thượng vô trước

 Người nầy mến thích kinh điển nầy

 Nếu người chẳng thích kinh điển nầy

 Nơi nhãn tạng tánh thường mê hoặc

 Họ thì thối thất các thiền định

 Chứng trí vô thượng thật là khó

 Nếu người mến thích kinh điển nầy

 Nơi nhãn tận tánh thông đạt được

 Họ thì thành tựu các thiền định

 Chứng trí vô thượng chẳng là khó

 Nếu người biết rõ nhãn tận tánh

 Nơi tướng vô ngã thông đạt được

 Họ thường được nghe pháp như vậy

 Sâu tin hiểu rõ được không nghi

 Nếu người tư duy nhãn tận tánh

 Ngày đêm siêng năng không lười mỏi

 Họ thì thành tựu tổng trì biện

 Thường diễn thuyết được kinh điển nầy

 Nếu người tư duy kinh điển nầy

 Thành tựu xuất hiện quang minh trí

 Họ thì hiển phát chư Như Lai

 Nơi nhãn không tánh hay thông đạt

 Giả sử xây dựng trăm ngàn tháp

 Cúng dường tất cả các Thế Tôn

 Nếu người tư duy kinh điển nầy

 Chỗ được công đức lại hơn kia

 Giả sử trăm ngàn các kỹ nhạc

 Cúng dường Xá lợi của Như Lai

 Nếu người được nghe kinh điển nầy

 Chỗ được công đức lại hơn kia

 Phật nhãn thấy rõ các chúng sanh

 Đều đồng Như Lai mà cúng dường

 Quá vô lượng câu chi số kiếp

 Chẳng bằng thọ trì kinh điển nầy

 Nếu người ở trong khế kinh nầy

 Thọ trì diễn thuyết bốn câu kệ

 Với người nầy phải nên cung kính

 Dường như đấng tối thắng đại bi

 Ta ở thuở xưa trăm ngàn kiếp

 Lưu chuyển trong ba cõi sanh tử

 Từng ở chỗ vô lượng chư Phật

 Vì khế kinh nầy mà cúng dường

 Hoặc thắp vô lượng trăm ngàn đèn

 Tim đèn đều bằng do tuần lớn

 Vì ở kinh nầy được tự tại

 Vì thế cúng dường Đại Đạo Sư

 Hoặc dùng hoa chiêm bặc đà lợi

 Hoa tô ma na, hoa vô ưu

 Đem vòng hoa nầy và phan lọng

 Các thứ cúng dường tháp Như Lai

 Thuở xưa ta ở trong sanh tử

 Có người đến cầu ta đều thí

 Hoặc thí hoa trái các rừng vườn

 Hoặc thí cầu bến và suối giếng

 Hoặc thí bạch tượng vả kỳ lân

 Hoặc thí bửu mã và thể nữ

 Hoặc thí giường vàng màn trân bửu

 Hoặc thí chuỗi ngọc vòng hoa đẹp

 Mỗi món như vậy cả trăm ngàn

 Vì khế kinh nầy nên không tiếc.

 Ta xưa vì kinh nầy

 Hộ trì giới thanh tịnh

 Thường tu tập định huệ

 Và thí các chúng sanh

 Ta xưa vì kinh nầy

 Người ác đến hủy mắng

 Ta thường thương xót họ

 Với họ chẳng gia hại

 Ta xưa vì kinh nầy

 Ai xin đều bố thí

 Đều tùy họ ưa thích

 Đều làm cho hoan hỉ

 Ta xưa vì kinh nầy

 Dâng cho các cung điện

 Trang nghiêm những lưới báu

 Cúng dường lên chư Phật

 Ta xưa vì kinh nầy

 Xả các thứ trân ngoạn

 Và đem châu ma ni

 Cúng dường lên chư Phật

 Ta xưa vì kinh nầy

 Thường ghi nhớ ơn người

 Nhẫn đến nghe một kệ

 Hằng tôn trọng người ấy

 Ta xưa vì kinh nầy

 Tôn trọng người trì giới

 Nhẫn đến chỗ kinh hành

 Thường cung kính nơi ấy

 Ta xưa vì kinh nầy

 Hoặc ở trong sanh tử

 Nhẫn đến có chút ơn

 Thường mong báo đáp họ

 Ta xưa vì kinh nầy

 Chẳng báng pháp cầu lợi

 Thương mến hàng thân hữu

 Và tất cả chúng sanh

 Ta xưa vì kinh nầy

 Nghe nhiều giỏi giảng thuyết

 Không chấp trước các pháp

 Chẳng lẫn tiếc với người

 Ta xưa vì kinh nầy

 Nếu có tâm địa xấu

 Liền sám hối trừ hết

 Chẳng để nó tăng trưởng

 Ta xưa vì kinh nầy

 Thân làm Vương Thái Tử

 Được bao nhiêu trân bửu

 Hương hoa và hương bột

 Ta liền phát định tâm

 Dâng cúng lên chư Phật

 Ta xưa vì kinh nầy

 Thương những kẻ lao tù

 Bị các thứ khổ sở

 Đem thân mình thay họ

 Ta xưa vì kinh nầy

 Bỏ những vui ngũ dục

 Thường mỗi tháng lục trai

 Thọ trì các cấm giới

 Ta xưa vì kinh nầy

 Thường tu hạnh nhẫn nhục

 Nhẫn đến với vợ con

 Cũng chẳng hề tham lẫn

 Ta xưa vì kinh nầy

 Khiến những người nghèo đói

 Thảy đều được an vui

 Đầy đủ những của báu

 Ta xưa vì kinh nầy

 Mà nhiếp thọ tất cả

 Sa Môn, Bà La Môn

 Và các loài chúng sinh

 Ta xưa vì kinh nầy

 Làm lợi cho tất cả

 Thường làm đại thí chủ

 Chẳng tiếc với người xin

 Hoặc nơi cây hoa quả

 Chẳng cho người đốn chặt

 Thí khắp các chúng sanh

 Tùy ý đều đầy đủ

 Thuở xưa ta bố thí

 Lòng ta thường bình đẳng

 Trì giới đủ công đức

 Phá giới không tàm quý

 Người chứng đại thần thông

 Dưới đến loại phàm ngu

 Ta đều tôn trọng họ

 Cung kính châu cấp cả

 Thuở xưa ta bố thí

 Lòng ta không cao hạ

 Chẳng cầu sanh cõi lành

 Chí ưa thích kinh nầy

 Hoặc làm cho trong nước

 Đều không có oán địch

 Điều phục các loài rồng

 Đúng thời mưa nhuần mát

 Nguyệt Quang ông phải biết

 Trải qua vô lượng kiếp

 Ta vì câu kinh nầy

 Tu tập các khổ hạnh

 Dầu trong trăm ngàn kiếp

 Tuyên nói chẳng hết được

 Ông đã có định tín

 Thuở mạt thế đương lai

 Phải sanh tâm chánh niệm

 Diễn nói kinh điển nầy

 Ta dùng Phật nhãn xem

 Thấy rõ đời vị lai

 Có bao nhiêu công hạnh

 Đều biết rõ tất cả

 Nếu có các Tỳ Kheo

 Vì cầu trí vô thượng

 Hay dùng tâm tịnh tín

 Diễn nói kinh điển nầy

 Người ấy và chỗ ở

 Ta biết rõ tất cả

 Nếu những người hạ liệt

 Chẳng nghe kinh điển nầy

 Chê bai người tuyên thuyết

 Ta biết rõ tất cả

 Nếu có các Tỳ Kheo

 Và các Tỳ Kheo Ni

 Được nghe kinh điển nầy

 Cảm thương mà khóc lóc

 Ta đều thọ ký họ

 Được thấy đấng Tối Thắng

 Nguyệt Quang ông phải biết

 Thần thông lực của Phật

 Hoặc người tâm thanh tịnh

 Hoặc người chẳng thanh tịnh

 Hoặc người có tín giải

 Ta đều biết rõ cả

 Nếu có các chúng sanh

 Chí nguyện thường tịch tịnh

 An trụ các thiền định

 Chẳng dính mắc sanh tử

 Nhẫn đến những tập khí

 Đều vĩnh viễn dứt hẳn

 Các công đức như vậy

 Ta đều biết rõ cả

 Hoặc có các chúng sanh

 Với Phật lòng mến thích

 Những sự vị lai ấy

 Ta đều biết rõ cả

 Nếu có các chúng sanh

 Nhiễm trước vui thế gian

 Với Phật chủng Bồ đề

 Chẳng khéo khai phát được

 Do vì nhơn duyên ấy

 Lui mất các phương tiện

 Nếu có người biết được

 Chư Phật Bồ đề chủng

 Người ấy tất sẽ được

 Vô biên quang thanh tịnh

 Nguyệt Quang ông phải xem

 Những quang minh như vậy

 Mỗi mỗi sự nhơn duyên

 Thảy đều có sai khác

 Ông dùng sức trí huệ

 Phải biết rõ tất cả

 Nếu bỏ ác trí thức

 Mà gần gũi bạn lành

 Hộ trì giới thanh tịnh

 Thành tựu Phật quang minh

 Ông phải hộ các căn

 Rời bỏ không tàm quý

 Tu hành các pháp lành

 Hộ trì các chúng sanh

 Ông phải bỏ tranh cãi

 Thấu rõ nơi tánh không

 Chẳng tham cầu lợi dưỡng

 Nghe nhiều giỏi giảng thuyết

 Ông phải xem lợi dưỡng

 Dường như là phẩn nhơ

 Chớ vì phẩn lợi dưỡng

 Ô nhiễm tâm thanh tịnh

 Thường cầu tìm trí huệ

 Sẽ được lợi vô thượng

 Ông phải tu Phật đạo

 Quán Phật đồng pháp tánh

 Thường thắp đuốc đại pháp

 Soi khắp trong thế gian




BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Bảo-Tích

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm

Comments

Popular posts from this blog