Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo



KINH

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

 

Hán dịch: Pháp Sư Đàm Vô Sấm

Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

 

 

MỤC LỤC


 

1. Phẩm Tự Thứ Nhất


QUYỂN 1


2. Phẩm Thuần Đà Thứ Hai

3. Phẩm Ai Thán Thứ Ba


QUYỂN 2


4. Phẩm Trường Thọ Thứ Tư

5. Phẩm Kim Cang Thân Thứ Năm

6. Phẩm Danh Tự Công Đức Thứ Sáu


QUYỂN 3


7. Phẩm Tứ Tướng Thứ Bảy


QUYỂN 4

QUYỂN 5


8. Phẩm Tứ Y Thứ Tám


QUYỂN 6


9. Phẩm Tà Chánh Thứ Chín

10. Phẩm Tứ Đế Thứ Mười

11. Phẩm Tứ Đảo Thứ Mười Một


QUYỂN 7


12. Phẩm Như Lai Tánh Thứ Mười Hai

13. Phẩm Văn Tự Thứ Mười Ba

14. Phẩm Điểu Dụ Thứ Mười Bốn


QUYỂN 8


15. Phẩm Nguyệt Dụ Thứ Mười Lăm

16. Phẩm Bồ Tát Thứ Mười Sáu


QUYỂN 9


17. Phẩm Đại Chúng Sở Vấn Thứ Mười Bảy

18. Phẩm Hiện Bịnh Thứ Mười Tám


QUYỂN 10


19. Phẩm Thánh Hạnh Thứ Mười Chín


QUYỂN 11

QUYỂN 12

QUYỂN 13


20. Phẩm Phạm Hạnh Thứ Hai Mươi

21. Phẩm Anh Nhi Hạnh Thứ Hai Mươi Mốt


QUYỂN 14

QUYỂN 15

QUYỂN 16

QUYỂN 17

QUYỂN 18


22. Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ Tát Thứ Hai Mươi Hai


QUYỂN 19

QUYỂN 20

QUYỂN 21

QUYỂN 22

QUYỂN 23

QUYỂN 24


23. Phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát Thứ Hai Mươi Ba


QUYỂN 25

QUYỂN 26

QUYỂN 27

QUYỂN 28

QUYỂN 29

QUYỂN 30


24. Phẩm Ca Diếp Bồ Tát Thứ Hai Mươi Bốn


QUYỂN 31

QUYỂN 32

QUYỂN 33

QUYỂN 34

QUYỂN 35

QUYỂN 36


25. Phẩm Kiều Trần Như Thứ Hai Mươi Lăm


QUYỂN 37

QUYỂN 38


26. Phẩm Di Giáo Thứ Hai Mươi Sáu

27. Phẩm Ứng Tận Hườn Nguyên Thứ Hai Mươi Bảy


QUYỂN 39


28. Phẩm Trà Tỳ Thứ Hai Mươi Tám

29. Phẩm Cúng Dường Xá Lợi Thứ Hai Mươi Chín


QUYỂN 40



TRỌN BỘ 40 QUYỂN



KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT


ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT 

HOA NGHIÊM KINH




NGHI THỨC SÁM HỐI

TRƯỚC KHI TỤNG KINH



(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước đức vô-lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải sám hối, sám hối tức là làm cho ba nghiệp thanh tịnh)

 

Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật (1 lạy)

Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp (1 lạy)

Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

 

(Quỳ tay cầm hương cúng-dường phát nguyện)

 

Nguyện mây hương mầu này

Khắp cùng mười phương cõi

Cúng-dường tất cả Phật

Tôn Pháp, các Bồ-Tát,

Vô-biên chúng Thanh-văn

Và cả thảy Thánh-hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô-biên cõi,

Khắp xông các chúng-sanh

Ðều phát lòng bồ-đề,

Xa lìa những nghiệp vọng

Trọn nên đạo vô-thượng.

(Cầm hương lạy 1 lạy)


 

(Ðứng chắp tay xướng) :

 

Sắc thân Như-Lai đẹp

Trong đời không ai bằng

Không sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đảnh lễ.

Sắc thân Phật vô-tận

Trí huệ Phật cũng thế,

Tất cả pháp thường-trú

Cho nên con về nương.

Sức trí lớn nguyện lớn

Khắp độ chúng quần-sanh,

Khiến bỏ thân nóng khổ

Sanh kia nước mát vui.

Con nay sạch ba nghiệp

Quy-y và lễ tán

Nguyện cùng các chúng-sanh

Ðồng sanh nước An-Lạc.

 

Án phạ nhựt ra vật (7 lần)


 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Thường-tịch quang tịnh-độ

A-Di-Ðà Như-Lai

Pháp-thân mầu thanh-tịnh

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Thật báo trang-nghiêm độ

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân tướng hải vi-trần

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Phương-tiện thánh cư độ

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân trang-nghiêm giải-thoát

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân căn giới đại-thừa

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

A-Di-Ðà Như-Lai

Thân hóa đến mười phương

Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Giáo hạnh lý ba kinh

Tột nói bày y-chánh

Khắp pháp-giới Tôn-Pháp (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Quan-Thế-Âm Bồ-Tát

Thân tử-kim muôn ức

Khắp pháp-giới Bồ-Tát (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Ðại-Thế-Chí Bồ-Tát

Thân trí sáng vô-biên

Khắp pháp-giới Bồ-Tát (1 lạy)

 

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

Cõi An-Lạc phương tây

Thanh-tịnh đại-hải-chúng

Thân hai nghiêm : Phước, trí

Khắp pháp-giới Thánh-chúng (1 lạy)

 

(Ðứng chắp tay nguyện) :

 

Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng-sanh 'trong pháp-giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng (1) 'nên qui mạng (2) sám-hối (3).

 

(1 lạy, quỳ chắp tay sám hối) :

 

Chí tâm sám-hối :

 

Ðệ tử ...  và chúng-sanh trong pháp-giới, từ đời vô-thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô-minh che đăy nên điên đảo mê-lầm, lại do sáu căn ba nghiệp (4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô-gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô-lượng vô-biên nói không thể hết. Mười phương các đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chếu soi tất cả. Lý mầu thường trụ đầy dẫy hư-không.

Con từ vô-thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối-tăm, chẳng thấy chẳng nghe chẳng hay chẳng biết, vì nhơn duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6), trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. -- Kinh rằng : 'Ðức Tỳ-Lô-Giá-Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường-tịch-quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật-Pháp, mà con không rõ lại theo giòng vô-minh vì thế trong trí bồ-đề mà thấy không thanh-tịnh, trong cảnh giải-thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ nay mới chừa bỏ ăn-năn, phụng đối trước các đức Phật và A-Di-Ðà Thế-Tôn mà phát lồ (7) sám-hối, làm cho đệ-tử cùng pháp-giới chúng-sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô-thỉ, hoặc hiện-tại cùng vị-lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt-ráo thanh-tịnh.

Ðệ-tử sám-hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu-tập cũng trọn thanh-tịnh, thảy đều hồi-hướng dùng trang-nghiêm Tịnh-độ, khắp với chúng-sanh, đồng sanh về nước An-Dưỡng.

Nguyện đức A-Di-Ðà Phật thường đến hộ-trì, làm cho căn lành của đệ-tử hiện-tiền tăng-tấn, chẳng mất nhơn-duyên Tịnh-độ, đến giờ lâm-chung, thân an-lành niệm chánh vững-vàng, xem nghe đều rõ-ràng, tận mặt thấy đức A-Di-Ðà cùng các Thánh-chúng, tay cầm đài hoa tiếp-dẫn đệ-tử, trong khoảng sát-na sanh ra trước Phật, đủ đạo-hạnh Bồ-Tát, rộng độ khắp chúng-sanh đồng thành Phật đạo.

Ðệ-tử sám-hối phát-nguyện rồi quy-mạng đảnh-lễ : Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, A-Di-Ðà Như-Lai, biến pháp-giới Tam-bảo. (1 lạy)




NGHI THỨC TRÌ TỤNG

 

 

BÀI TÁN LƯ HƯƠNG

 

 

Lư hương vừa ngún chiên-đàn

Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa

Lòng con kính ngưỡng thiết tha

Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng minh.

 

Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)

 

 

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

 

ÁN LAM (7 lần)

 

 

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN

 

Tu rị Tu rị ma ha tu rị tu tu rị ta-bà-ha (3 lần)

 

 

TỊNH BA NGHIỆP CHƠN NGÔN

 

Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ,

đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám (3 lần)

 

 

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN

 

Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần)

 

 

BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Đại Niết-Bàn

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.

 

Nam-mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần)

 

 

BÀI KỆ KHAI KINH

 

 

Phật-pháp rộng sâu rất nhiệm mầu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện tỏ Như-Lai nghĩa nhiệm mầu


 

Nam-Mô Bát-Nhã Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)



KINH

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN



BỔ KHUYẾT CHƠN NGÔN



Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, a bát ra đế, yết đa chiết, chiết nại di. Án, kê di kê di, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa sơn đính, bát ra đế, ô đát ma đát ma, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn tá-ha (7 lần)



Nam-Mô Hoa-T
ạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá- Na Phật (3 lần)



MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH


 

Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh, diệc vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu tam bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

 

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha.


BẠT NHỨT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BỔN

ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI

 

NAM-MÔ A DI ĐA BÀ DẠ, ĐA THA DÀ ĐA DẠ, ĐA ĐIỆT DẠ THA.

A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐẾ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐA, DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA, CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. 



Khể chủ tây phương An-Lạc quốc

Tiếp dẫn chúng-sanh đại đạo sư

Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh

Duy nguyện từ-bi ai nhiếp thọ

 

Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp-giới chúng-sanh cầu ư chư Phật, nhứt thừa vô-thượng bồ-đề đạo-cố, chuyên tâm trì niệm A-Di-Đà-Phật vạn đức hồng danh kỳ sanh tịnh-độ. Duy nguyện Từ-Phụ A-Di-Đà Phật ai lân nhiếp thọ từ-bi gia hộ.

 

A-Di-Đà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang-minh vô đẳng luân,

Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-Di.

Hám mục trừng thanh tứ đại hải,

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa bồ-tát chúng diệc vô-biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.


 NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT


Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (10 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (10 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (10 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (10 câu)

 


(Quỳ, chí tâm đảnh lễ và đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)



NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT (3 lần 3 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ VẠN ỨC TỪ KIM THÂN ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ VÔ BIÊN QUANG TRÍ THÂN ĐẠI LỰC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT. (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ PHƯỚC TRÍ NHỊ NGHIÊM THÂN THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI LIÊN TRÌ HẢI HỘI PHẬT BỒ TÁT HIỀN THÁNH CHÚNG CHƯ THƯỢNG THIỆN NHÂN (1 lạy)



Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sanh tử phàm phu tội chướng thâm trọng luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công-đức, nhứt tâm xưng niệm cầu nguyện vãng sanh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, bất thức Phật thân, tướng hảo quang-minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quan Ấm Thế Chí Bồ Tát chúng bỉ thế-giới trung, thanh-tịnh trang-nghiêm, quang-minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến A Di Đà Phật.

 

Ngã kim trì niệm A-Di-Đà.

Tức phát bồ-đề quảng đại nguyện

Nguyện ngã định huệ tốc viên minh

Nguyện ngã công-đức giai thành tựu

Nguyện ngã thắng phước biến trang-nghiêm

Nguyện cộng chúng-sanh thành Phật đạo.

Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp

Giai do vô thỉ tham sân si

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh

Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời

Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại

Diện kiến ngã Phật A-Di-Đà

Tức đắc vãng-sanh Cực-Lạc sát

Ngã ký vãng-sanh Cực-Lạc dĩ

Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện

Nhứt-thiết viên mãn tận vô dư

Lợi lạc nhứt thiết chúng-sanh giới

Ngã Phật chúng hội hàm thanh-tịnh

Ngã thời ư thẳng liên-hoa sanh

Thân đỗ Như-Lai Vô-Lượng-Quang

Hiện tiền thọ ngã bồ-đề ký.

Mong ngã Như-Lai thọ ký dĩ

Hóa thân vô-số bá cúng-dường-chi

Tri lực quảng đại biến thập phương

Phổ lợi nhứt thế chúng-sanh giới.

Chúng-sanh vô-biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật-đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

Nguyện sanh tây phương tịnh-độ trung

Cửu phẩm liên hoa vi-trần phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh

Bất thối Bồ-Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công-đức

Trang-nghiêm Phật tịnh-độ

Thượng báo tứ trọng ân

Hạ tế tam đồ khổ

Nhược hữu kiến văn giả

Tức phát bồ-đề tâm

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sanh Cực-Lạc quốc.

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sanh An-Dưỡng-Quốc.

 

NGUYỆN

 

A-Di-Đà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thinh phân minh, diện phụng Di-Đà, dữ chư thánh-chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã.

Nhứt sát na khoảnh, sanh tại Phật tiền, cụ Bồ-Tát đạo, quảng độ chúng-sanh đồng thành chủng-trí.

 

Chí tâm đảnh lễ : Nam-Mô A-Di-Đà Phật Thế-Tôn.

Nguyện ngã Tội chưóng tất tiêu diệt (1 lạy)

Nguyện ngã Thiện căn nhựt tăng trưởng (1 lạy)

Nguyện ngã Thân tâm hàm thanh-tịnh (1 lạy)

Nguyện ngã Nhứt tâm tảo thành tựu (1 lạy)

Nguyện ngã Tam muội đắc hiện tiền (1 lạy)

Nguyện ngã Tịnh nhơn tốc viên mãn (1 lạy)

Nguyện ngã Liên đài dự tiêu danh (1 lạy)

Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký (1 lạy)

Nguyện ngã Dự tri mạng chung thời (1 lạy)

Nguyện ngã Vãng sanh Cực Lạc Quốc (1 lạy)

Nguyện ngã Viên mãn Bồ tát đạo (1 lạy)

Nguyện ngã Quảng độ chư chúng-sanh (1 lạy)

 

(Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 


Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)



 

Thích Nghĩa Sám Pháp:

 

(1) : Phiền-não, nghiệp nhơn, quả-báo, ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi : 'ba món chướng'.

(2) : Ðem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng, chính là nghĩa của hai chữ 'Nam-mô'.

(3) : Nói đủ là Sám-ma hối-quá, 'Sám-ma' là tiếng Phạm, nghĩa là 'hối quá' tức là ăn-năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.

(4) : Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý sáu căn và ba nghiệp thân - khẩu - ý.

(5) : Giết cha, giết mẹ, giết thánh-nhơn, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa-hiệp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô-gián nên gọi là tội Vô-gián - Ngục Vô-gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.

(6) : A-tu-la, Súc-sanh, Ngạ-quỉ, Ðịa-ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.

(7) : Bày tỏ tội-lỗi ra trước Chúng Nhơn không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú-tàng (che-giấu), Có phát-lồ thời tội mới tiêu, như bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi).

Comments

Popular posts from this blog