PHẬT THUYẾT

KINH KIM CANG BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

 

HƯƠNG TÁN

 

Lư hương sạ nhiệt,

Pháp giới mông huân.

Chư Phật hải hội tất diêu văn,

Tùy xứ kiết tường vân,

Thành ý phương ân,

Chư Phật hiện toàn thân.

 

Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

 

 

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN

 

Tu rị Tu rị ma ha tu rị tu tu rị ta-bà-ha (3 lần)

 

 

TỊNH BA NGHIỆP CHƠN NGÔN

 

Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ,

đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám (3 lần)

  

 

ÁN THỔ ĐỊA CHÂN NGÔN

 

Nam mô tam mãn, đa một đà nẫm, án, độ rô, độ rô địa vĩ, ta bà ha. (3 lần)

 

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN

 

Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần)

 

PHỤNG THỈNH BÁT KIM CANG:

 

Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang.

Phụng thỉnh Bích Độc Thần Kim Cang.

Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang.

Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang.

Phụng thỉnh Xích Thanh Hỏa Kim Cang.

Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang.

Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang.

Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang.

 

 

PHỤNG THỈNH TỨ BỒ TÁT:

 

Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ tát.

Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ tát.

Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ tát.

Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ tát.

 

 

PHÁT NGUYỆN VĂN:

 

Khể thủ tam giới Tôn,

Quy mạng thập phương Phật.

Ngã kim phát hoằng nguyện:

Trì thử Kim Cang kinh.

Thượng báo tứ trọng ân,

Hạ tế tam đồ khổ.

Nhược hữu kiến văn giả,

Tất phát Bồ đề tâm.

Tận thử nhứt báo thân,

Vãng sanh Cực Lạc quốc.

 

 

VÂN HÀ PHẠM:

 

Vân hà đắc trường thọ,

Kim Cang bất hoại thân?

Phục dĩ hà nhân duyên

Đắc đại kiên cố lực?

Vân hà ư thử kinh

Cứu cánh đáo bỉ ngạn?

Nguyện Phật khai vi mật

Quảng vị chúng sanh thuyết.

 

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

 

 

KHAI KINH KỆ:

 

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp.

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa.

 

Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ tát Ma Ha Tát. (3 Lần)

 

 

PHẬT NÓI:

KINH KIM CANG BÁT-NHÃ (1) BA-LA-MẬT

 

 

1. PHÁP HỘI NHƠN DO

 

Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ở trong vườn Kỳ Thọ, Cấp Cô Độc, tại nước Xá Vệ, cùng với chúng đại Tỳ kheo, một nghìn hai trăm năm mươi người câu hội. (2)

 

Lúc đó, gần đến giờ ăn, đức Thế Tôn đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá Vệ mà khất thực.

 

Trong thành ấy, đức Phật theo thứ tự, ghé từng nhà, khất thực xong (3) trở về Tinh xá, dùng cơm, rồi cất y bát, sau khi rửa chân xong, đức Phật trải tòa mà ngồi.

 

2. ÔNG TU BỒ ĐỀ THƯA HỎI (4)

 

Bấy giờ, ông Trưởng Lão Tu Bồ Đề, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bên vai hữu, gối bên hữu quỳ sát đất, cung kính chắp tay, mà bạch cùng đức Phật rằng:

 

"Hi hữu thay, đức Thế Tôn! Đức Như Lai khéo hay hộ niệm (5) các vị Bồ tát, và khéo hay phó chúc (6) cho các vị Bồ tát!

 

Bạch đức Thế Tôn! Trang thiện nam, người thiện nữ, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thời phải trụ tâm như thế nào, nên hàng phục tâm mình như thế nào?"

 

Đức Phật dạy: "Hay thay! Hay thay! Này Tu Bồ Đề! Đúng như lời của ông vừa nói, đức Như Lai khéo hay hộ niệm các vị Bồ tát, và khéo hay phó chúc cho các vị Bồ tát.

 

"Nay ông nên lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói. Trang thiện nam, người thiện nữ, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, phải trụ tâm như thế này, phải hàng phục tâm mình như thế này".

 

"Vâng, bạch đức Thế Tôn! Con xin vui thích muốn nghe."

 

3. ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG

 

Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: "Các vị đại Bồ tát phải hàng phục tâm mình như thế này: bao nhiêu những loài chúng sanh, hoặc là loài noãn sanh, hoặc loài thai sanh, hoặc loài thấp sanh, hoặc loài hóa sanh, hoặc loài có hình sắc, hoặc loài không hình sắc, hoặc loài có tư tưởng, hoặc loài không tư tưởng, hoặc loài chẳng phải có tư tưởng, mà cũng chẳng phải không tư tưởng, (7) thời Ta đều làm cho được diệt độ, và đưa tất cả vào nơi vô dư Niết bàn (8). Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, mà thiệt không có chúng sanh nào là kẻ được diệt độ cả. Tại sao vậy? Này, Tu Bồ Đề! Nếu vị Bồ tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thời chẳng phải là Bồ tát.

 

4. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

 

Tu Bồ Đề! Lại nữa, vị Bồ tát, đúng nơi pháp, phải nên không có chỗ trụ trước mà làm việc bố thí. Nghĩa là không trụ trước nơi hình sắc mà bố thí, không trụ trước nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà bố thí. (9)

 

Này, Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát phải nên bố thí như thế, chẳng trụ trước nơi tướng. Tại vì sao? Vì nếu vị Bồ tát, không trụ trước nơi tướng mà bố thí, thời phước đức nhiều không thể suy lường.

 

Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ sao? Có thể suy lường được cõi hư không ở phương đông chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn, không thể suy lường được."

 

"Tu Bồ Đề! Có thể suy lường được cõi hư không ở phương nam, tây, bắc, cõi hư không ở bốn hướng cạnh, (10) và cõi hư không ở trên, dưới, chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không thể suy lường được."

 

"Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát không trụ trước nơi tướng mà bố thí, thời phước đức cũng lại như thế, không thể suy lường được.

 

Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát chỉ phải nên đúng như lời Ta đã dạy đó mà trụ tâm.

 

5. THẤY CHƠN THIỆT ĐÚNG LÝ

 

Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ sao? Có thể do nơi thân tướng mà thấy Như Lai chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không thể do nơi thân tướng mà thấy được Như Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói thân tướng đó chính là chẳng phải thân tướng." (11)

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Phàm hễ có tướng đều là hư vọng cả! Nếu nhận thấy các tướng đều là không phải tướng, chính là thấy Như Lai".

 

6. CHÁNH TÍN RẤT HI HỮU

 

Ông Tu Bồ Đề bạch cùng đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Như có chúng sanh nào được nghe những câu trong bài giảng giải như vậy, mà sanh lòng tin là thiệt chăng?"

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Ông chớ nói lời ấy! Sau khi đức Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người trì giới, tu phước, có thể sanh lòng tin nơi những câu trong bài này mà cho đó là thiệt, thời phải biết rằng người ấy chẳng phải chỉ vun trồng căn lành nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật, mà người đó đã vun trồng căn lành từ nơi vô lượng nghìn muôn đức Phật rồi.

 

Như có ai nghe những câu trong bài này sanh lòng tin trong sạch nhẫn đến chừng trong khoảng một niệm. Tu Bồ Đề! Đức Như Lai đều thấy, đều biết, những chúng sanh đó đặng phước đức vô lượng dường ấy. Tại vì sao? Vì những chúng sanh đó không còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp. Tại vì sao? Vì những chúng sanh đó, nếu trong lòng chấp tướng, thời chính là chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

 

Nếu chấp tướng pháp, thời chính là chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, và vì nếu chấp tướng phi pháp, thời cũng chính là chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, vì thế cho nên, chẳng nên chấp pháp, và cũng chẳng nên chấp phi pháp.

 

Cũng bởi nghĩa đó, Như Lai thường dạy rằng: "Này, các Tỳ kheo, các ông phải biết rằng, pháp của Ta nói ra đó, dụ cũng như thuyền bè, (12) đến pháp còn phải xả bỏ, huống nữa là phi pháp!" (13)

 

7. VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT

 

Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Đức Như Lai có nói pháp chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Như con hiểu ý nghĩa của Phật nói, thời không có pháp nhứt định nào, gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có pháp nhứt định nào, mà đức Như Lai có thể nói được. Bởi vì sao? Vì pháp của đức Như Lai nói, đều không thể vin lấy, không thể nói được, chẳng phải pháp, chẳng phải "không phải pháp". Tại vì sao? Vì tất cả Hiền Thánh, đều do nơi pháp vô vi mà có từng bực khác nhau". (14)

 

8. Y PHÁP XUẤT SANH CÔNG ĐỨC

 

"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu, đầy cả cõi tam thiên, đại thiên, để làm việc bố thí, phước đức của người đó đặng, có nhiều hay chăng?"

 

Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn, rất nhiều! Tại làm sao? Vì phước đức đó, chính là không phải thật phước đức, cho nên đức Như Lai nói là phước đức nhiều".

 

"Còn như có người, nơi trong kinh này, nhẫn đến thọ trì một bài kệ bốn câu v.v... lại giảng nói cho người khác, thời phước đức này trội hơn phước đức trước. Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Tất cả các đức Phật, và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của các đức Phật, đều từ kinh này mà có ra. Này Tu Bồ Đề! Phật pháp nói đó chính chẳng phải là Phật pháp.

 

9. NHỨT TƯỚNG KHÔNG CÓ TƯỚNG (15)

 

"Tu Bồ Đề! Vị Tu Đà Hoàn có thể tự nghĩ là mình chứng được quả Tu Đà Hoàn chăng?" (16)

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn, không thể được! Bởi vì sao? Vì vị Tu Đà Hoàn, gọi là bực Nhập Lưu, mà chính không nhập vào nơi đâu, chẳng vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đó gọi là Tu Đà Hoàn".

 

"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Vị Tư Đà Hàm có thể tự nghĩ rằng mình được quả Tư Đà Hàm chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn không thể được! Bởi vì sao? Vì vị Tư Đà Hàm gọi là bực Nhất Vãng Lai, mà thiệt không có vãng lai, đó gọi là Tư Đà Hàm".

 

"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Vị A Na Hàm có thể tự nghĩ rằng, mình được quả A Na Hàm chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn không thể được! Bởi vì sao? Vì vị A Na Hàm gọi là bực Bất Lai, mà thiệt không có tướng bất lai, cho nên gọi là A Na Hàm".

 

"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Vị A La Hán có thể tự nghĩ rằng, mình chứng được quả vị A La Hán chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn không thể được! Bởi vì sao? Vì thiệt không có pháp chi gọi là A La Hán. Bạch đức Thế Tôn! Nếu như vị A La Hán nghĩ thế này: Ta chứng được quả vị A La Hán, thời chính là còn chấp trước tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

 

Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật dạy rằng con được môn "vô tránh Tam muội", (17) là bực nhứt trong mọi người, là bực A La Hán ly dục thứ nhứt.

 

Bạch đức Thế Tôn! Nếu con tự nghĩ rằng mình được quả vị A La Hán, thời chắc đức Thế Tôn chẳng nói: Tu Bồ Đề là người ưa hạnh tịch tịnh. Bởi Tu Bồ Đề thiệt không móng niệm, mới gọi Tu Bồ Đề là ưa hạnh tịch tịnh".

 

10. TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Ý của ông nghĩ thế nào? Thuở xưa, hồi ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng, đức Như Lai có chứng đắc nơi pháp chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không. Hồi ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng, nơi pháp, đức Như Lai thiệt không có chỗ chứng đắc."

 

"Này, Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Bồ tát có trang nghiêm Phật độ chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không, tại vì sao? Vì trang nghiêm Phật độ đó, chính chẳng phải trang nghiêm, đó tạm gọi là trang nghiêm."

 

"Này, Tu Bồ Đề! Vì thế các vị đại Bồ tát, phải nên sanh tâm thanh tịnh như vầy: chẳng nên trụ trước nơi sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ trước nơi thanh, hương, vị, xúc, và pháp, mà sanh tâm, nên "không chỗ trụ trước" mà sanh tâm thanh tịnh kia.

 

Này, Tu Bồ Đề! Ví như có người, thân như núi chúa Tu Di, (18) ý của ông nghĩ thế nào? Thân của người đó, có lớn chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Rất lớn. Bởi vì sao? Vì đức Phật nói chẳng phải thân, đó mới gọi là thân lớn."

 

11. PHƯỚC ĐỨC VÔ VI THÙ THẮNG

 

"Tu Bồ Đề! Như trong một sông Hằng có bao nhiêu số cát, lại có những sông Hằng nhiều như số cát đó. Ý của ông nghĩ thế nào? Số cát trong những sông Hằng đó, chừng có nhiều chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều. Nội những sông Hằng đã là nhiều vô số rồi, huống nữa là số cát trong sông!"

 

"Này, Tu Bồ Đề! Nay Ta nói thật mà bảo ông: Nếu có trang nam tử, người thiện nữ nhơn nào đem bảy thứ báu đầy cả ngần ấy Hằng hà sa số cõi Tam thiên đại thiên để làm việc bố thí, người đó đặng phước có nhiều không?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều."

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Nơi trong kinh này, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào, thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v... và giảng nói cho người khác nghe, thời phước đức này hơn phước đức trước kia.

 

12. TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

 

Này Tu Bồ Đề! Lại nữa, tùy chỗ nào giảng nói kinh này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v... phải biết chỗ đó, tất cả Trời, Người, A tu la... trong đời, đều nên cúng dường như là tháp miếu thờ đức Phật. Huống nữa là, có người nào hay thọ trì, đọc tụng, trọn cả kinh này!

 

Này Tu Bồ Đề! Phải biết người ấy thành tựu pháp tối thượng, hy hữu bực nhứt.

 

Còn nếu kinh điển này ở tại chỗ nào, thời chỗ đó chính là có đức Phật, hoặc có hàng tôn trọng Đệ tử của Phật." (19)

 

13. THỌ TRÌ ĐÚNG NHƯ PHÁP

 

Bấy giờ, ông Tu Bồ Đề bạch đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Tên gọi kinh này là gì? Chúng con phải phụng trì thế nào?"

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề rằng: "Kinh này tên là Kim Cang Bát nhã Ba la mật, ông nên theo danh tự ấy mà phụng trì.

 

Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề, đức Phật nói Bát nhã Ba la mật, chính chẳng phải Bát nhã Ba la mật, đó gọi là Bát nhã Ba la mật.

 

Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có chỗ nào nói pháp chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Như Lai không có chỗ nào nói pháp".

 

"Tu Bồ Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Bao nhiêu vi trần trong cõi tam thiên, đại thiên, thế là nhiều chăng?" (20)

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều".

 

"Này Tu Bồ Đề! Những vi trần ấy, đức Như Lai nói chẳng phải vi trần, đó tạm gọi là vi trần. Đức Như Lai nói thế giới cũng chẳng phải thế giới, chỉ tạm gọi là thế giới.

 

Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai chăng?" (21)

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không. Chẳng có thể do ba mươi hai tướng mà thấy được Như Lai.

 

Bởi vì sao? Đức Như Lai nói ba mươi hai tướng chính chẳng phải tướng, đó gọi là ba mươi hai tướng."

 

"Tu Bồ Đề! Như có trang thiện nam, người thiện nữ nào, đem thân mạng, bằng số cát sông Hằng ra bố thí. Nếu lại có người giữ theo trong kinh này, mà thọ trì nhẫn đến những bài kệ bốn câu v.v..., mà giảng nói cho người khác nghe, thời phước của người này nhiều hơn người trên."

 

14. VẮNG LẶNG LÌA TƯỚNG

 

Bấy giờ, ông Tu Bồ Đề nghe đức Phật nói kinh này, thời ông hiểu thấu nghĩa thú (22) của kinh, nên ông buồn khóc, rơi lệ mà bạch với đức Phật rằng:

 

"Hi hữu thay, đức Thế Tôn! Đức Phật nói kinh điển rất sâu xa dường ấy, từ ngày đặng huệ nhãn đến nay, con chưa từng được nghe kinh điển như thế này.

 

"Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có người được nghe kinh này, mà có lòng tin thanh tịnh, thời chính là sanh thiệt tướng. Phải biết người ấy thành tựu công đức hi hữu bực nhất.

 

Bạch đức Thế Tôn! Thiệt tướng đó chính chẳng phải tướng, cho nên đức Như Lai gọi là thiệt tướng.

 

Bạch đức Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển như thế này, con tin hiểu, thọ trì, chẳng đủ lấy làm khó.

 

Nếu khoảng năm trăm năm rốt sau ở đời tương lai, mà có chúng sanh nào đặng nghe kinh này, rồi tin hiểu thọ trì, thời người ấy chính là hi hữu bực nhứt.

 

Bởi vì sao? Người ấy không có tướng ngã, không có tướng nhân, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả.

 

Vì sao thế? Vì tướng ngã chính là không phải tướng, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, chính là không phải tướng!

 

Bởi vì sao? Vì rời lìa tất cả tướng, chính đó gọi là chư Phật".

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Đúng thế! Đúng thế! Lại như có người được nghe kinh này mà lòng không kinh hãi, không e sợ, không nhút nhát, thời phải biết, người đó rất là hi hữu. Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Đức Như Lai nói môn Ba la mật thứ nhất chính chẳng phải môn Ba la mật thứ nhất, đó tạm gọi là môn Ba la mật thứ nhất.

 

Này Tu Bồ Đề! Môn Nhẫn nhục Ba la mật, đức Như Lai nói đó chẳng phải Nhẫn nhục Ba la mật, mà tạm gọi là Nhẫn nhục Ba la mật.

 

Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Như Ta thuở xưa, bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể. (23) Trong lúc đó, Ta không có tướng ngã, không có tướng nhân, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả.

 

Vì sao vậy? Vì thuở xưa, trong lúc thân phận bị chặt rời rã đó, nếu Ta còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thời lẽ ra Ta khởi lòng hờn giận.

 

Này Tu Bồ Đề! Ta lại nhớ hồi thuở quá khứ, trong năm trăm đời, Ta làm vị Tiên nhẫn nhục. Trong bao nhiêu đời đó, Ta không tướng ngã, không tướng nhân, không tướng chúng sanh, không tướng thọ giả.

 

Tu Bồ Đề! Vì thế nên, Bồ tát phải rời lìa tất cả tướng, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chẳng nên trụ trước nơi sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ trước nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà sanh tâm. Nên sanh tâm không trụ trước vào đâu cả.

 

Nếu như tâm còn có chỗ để trụ, thời chính là chẳng phải trụ, cho nên đức Phật nói, tâm của Bồ tát chẳng nên trụ trước nơi sắc mà bố thí.

 

Này Tu Bồ Đề! Bồ tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên phải bố thí như thế. Đức Như Lai nói tất cả các tướng chính là không phải tướng, lại nói tất cả chúng sanh chính là chẳng phải chúng sanh.

 

Này Tu Bồ Đề! Đức Như Lai là bực nói lời chân chánh, lời chắc thiệt, lời đứng đắn, lời không phỉnh phờ, lời không sai khác.

 

Này Tu Bồ Đề! Pháp của đức Như Lai chứng đặng, pháp ấy, không thiệt, không hư. (24)

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ tát trụ trước nơi pháp mà làm việc bố thí, thời như người vào chỗ tối tăm, liền không thấy đặng chi cả.

 

Nếu tâm của Bồ tát, không trụ trước nơi pháp mà làm việc bố thí, thời như người có mắt sáng, lại có ánh sáng của mặt trời chiếu đến liền thấy các thứ hình sắc.

 

Này Tu Bồ Đề! Về đời đương lai, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào, có thể thọ trì, đọc tụng kinh này, liền được đức Như Lai dùng trí huệ của Phật, đều biết rõ người ấy, đều thấy rõ người ấy, thảy đều được thành tựu công đức vô lượng, vô biên.

 

15. CÔNG ĐỨC TRÌ KINH

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào, vào khoảng buổi sáng, đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí, vào khoảng buổi trưa, lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí, vào khoảng buổi chiều cũng đem thân mạng, bằng số cát sông Hằng để bố thí; trong vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp, đem thân mạng bố thí như thế.

 

Lại như có người nào, nghe kinh điển này mà sanh lòng tin không trái, thời phước của người này, hơn phước của người trước kia, huống chi là biên chép, thọ trì, đọc tụng, nói cho người khác nghe!

 

Này Tu Bồ Đề! Tóm tắt mà nói đó, thời kinh này có vô biên công đức không thể nghĩ bàn, không thể cân lường được.

 

Đức Như Lai vì người phát tâm đại thừa mà nói, vì người phát tâm tối thượng thừa mà nói.

 

Như có người nào, có thể thọ trì, đọc tụng, giảng nói rộng ra cho người khác nghe, thời đức Như Lai đều biết rõ người ấy, đều thấy rõ người ấy, thảy đều được thành tựu công đức không thể lường được, không thể cân được, không có ngằn mé, không thể nghĩ bàn được.

 

Những người như thế, chính là người gánh vác pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của đức Như Lai.

 

Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Vì nếu người nào ham ưa pháp tiểu thừa, chấp trước tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thời ở nơi kinh này, người ấy không thể nghe nhận, đọc tụng và giảng nói cho người khác nghe được.

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu những nơi chỗ nào mà có kinh này, thời tất cả Trời, người, A tu la..., trong đời đều nên cúng dường. Phải biết chỗ đó chính là tháp thờ đức Phật, đều phải cung kính lễ lạy, đi nhiễu quanh, (25) đem các món hoa hương mà rải trên chỗ đó.

 

16. SẠCH TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG

 

Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Như có trang nam tử, thiện nữ nhân nào, thọ trì, đọc tụng, kinh này, lại bị người khinh tiện; thì những tội nghiệp đã gây ra trong đời trước, người ấy đáng lẽ sẽ phải đọa vào ác đạo, nhưng bởi trong đời nay, bị người khinh tiện, nên tội nghiệp đã gây ra trong đời trước đó, liền được tiêu diệt, người ấy sẽ đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Này Tu Bồ Đề! Ta nhớ lại hồi thuở trước đức Phật Nhiên Đăng ra đời, vô lượng vô số kiếp về quá khứ, Ta gặp đặng tám trăm bốn nghìn muôn ức na do tha các đức Phật, lúc ấy Ta thảy đều hầu hạ, cúng dường, không có luống bỏ qua.

 

Về đời mạt thế sau này, nếu lại có người hay thọ trì, đọc tụng kinh này, thời công đức của những người ấy được, nếu đem so sánh với công đức cúng dường các đức Phật của Ta trong thuở trước, thời công đức của Ta sánh không bằng một phần trăm, một phần nghìn, muôn, ức, cho đến tính đếm thí dụ đều chẳng bằng được.

 

Này Tu Bồ Đề! Về đời mạt thế sau này, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào, thọ trì, đọc tụng, kinh này, công đức của những người đây đặng, nếu Ta nói đủ hết cả ra, hoặc có kẻ nghe đó, trong lòng liền cuồng loạn, nghi ngờ, không tin.

 

Này Tu Bồ Đề! Phải biết rằng, vì nghĩa lý của kinh này chẳng thể nghĩ bàn được, nên quả báo cũng không thể nghĩ bàn được!"

 

17. RỐT RÁO KHÔNG NGÃ

 

Bấy giờ, ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Trang thiện nam, người thiện nữ, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, phải trụ tâm như thế nào? Phải hàng phục tâm mình như thế nào?".

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Trang thiện nam, người thiện nữ, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đó, thời phải sanh tâm như vầy: Ta phải diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng sanh xong, mà không có một chúng sanh nào thiệt diệt độ.

 

Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát mà còn có tướng ngã; tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thời chính là chẳng phải Bồ tát.

 

Vì cớ sao? Này Tu Bồ Đề! Vì thiệt ra không có pháp chi phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả?

 

Tu Bồ Đề, nơi ý của Ông nghĩ thế nào? Ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng, Như Lai có pháp chi được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không, như chỗ con hiểu nghĩa lý của lời Phật dạy, thời đức Như Lai ở nơi đức Phật Nhiên Đăng, Đức Thế Tôn đã không có pháp chi mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả."

 

Đức Phật dạy rằng: "Đúng thế! Đúng thế! Này Tu Bồ Đề! Thiệt không có pháp chi đức Như Lai đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu còn có pháp nào mà đức Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thời đức Phật Nhiên Đăng bèn chẳng thọ ký cho Ta rằng: "Ông ở đời sau sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni."

 

Bởi thiệt không có pháp chi để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho nên đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ta, mà nói lời này:

 

"Ông ở đời sau sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Bởi vì sao? Vì Như Lai đó chính là nghĩa các pháp như như. (26)

 

Nếu có người nói rằng: Đức Như Lai được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Này Tu Bồ Đề! Thiệt ra không có pháp chi mà đức Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Này Tu Bồ Đề! Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của đức Như Lai chứng được, trong đó không thiệt, không hư, vì thế đức Như Lai nói, tất cả pháp đều là Phật pháp.

 

Này Tu Bồ Đề! Tất cả pháp mà đức Phật nói đó, chính chẳng phải tất cả pháp, cho nên gọi là tất cả pháp.

 

Này Tu Bồ Đề! Ví như thân người cao lớn."

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Như Lai nói thân người cao lớn, chính là chẳng phải thân cao lớn, đó tạm gọi là thân cao lớn".

 

"Này Tu Bồ Đề! Bồ tát cũng như thế. Nếu nói lời như vầy: Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh, thời vị đó không gọi là bực Bồ tát.

 

Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Thiệt không có pháp chi gọi là Bồ tát.

 

Vì thế, Như Lai nói tất cả pháp, không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả.

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát nói như thế này: Ta phải trang nghiêm Phật độ, thời vị ấy không gọi là bực Bồ tát.

 

Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói trang nghiêm Phật độ đó, chính chẳng phải trang nghiêm, đó tạm gọi là trang nghiêm.

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát thông đạt được lý không ngã, không pháp đó, (27)thời Như Lai gọi là thiệt phải bực Bồ tát.

 

18. XEM ĐỒNG MỘT THỂ

 

Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có nhục nhãn chăng?" (28)

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế, đức Như Lai có nhục nhãn."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có thiên nhãn chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức Như Lai có thiên nhãn."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có huệ nhãn chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức Như Lai có huệ nhãn."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có pháp nhãn chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức Như Lai có pháp nhãn."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Đức Như Lai có Phật nhãn chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Đức Như Lai có Phật nhãn."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Như bao nhiêu cát trong sông Hằng, đức Phật có nói là cát chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế, đức Như Lai nói là cát."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Ví như có bao nhiêu cát trong một sông Hằng, thì cũng có số những sông Hằng, bằng số cát như thế, cõi Phật như bao nhiêu số cát trong những sông Hằng đó, như thế cõi Phật đó có nhiều chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều!"

 

Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề: "Bao nhiêu thứ tâm niệm của tất cả chúng sanh trong ngần ấy cõi nước, đức Như Lai đều biết rõ. Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói các thứ tâm đều là chẳng phải tâm, đó gọi là tâm. Vì cớ sao thế? Này Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ chẳng thể đặng, tâm hiện tại chẳng thể đặng, tâm vị lai chẳng thể đặng.

 

19. THÔNG HÓA PHẬT GIÁO

 

Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu, đầy cả cõi tam thiên đại thiên để dùng bố thí. Do nhơn duyên như thế, người ấy có được phước, có nhiều chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Đúng thế. Người đó, do nhân duyên ấy, được phước rất nhiều."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nếu dùng phước đức là có, hữu vi, thì đức Như Lai chẳng nói là được phước đức nhiều.

 

Do vì phước đức là không, vô vi, nên đức Như Lai mới nói là được phước đức nhiều."

 

20. LÌA SẮC LÌA TƯỚNG

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý ông nghĩ thế nào? Có thể do sắc thân cụ túc, mà thấy được đức Phật chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không. Chẳng nên do sắc thân cụ túc mà thấy được đức Như Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói sắc thân cụ túc, chính chẳng phải sắc thân cụ túc, đó gọi là sắc thân cụ túc."

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi ý ông nghĩ thế nào? Có thể do nơi các tướng cụ túc mà thấy được đức Như Lai chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không. Chẳng nên do nơi các tướng cụ túc mà thấy được đức Như Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như Lai nói các tướng cụ túc, nhưng chẳng phải cụ túc, đó gọi là các tướng cụ túc."

 

21. CHẲNG PHẢI NĂNG THUYẾT SỞ THUYẾT

 

"Này Tu Bồ Đề! Ông chớ nói rằng đức Như Lai nghĩ thế này: Ta nên có chỗ thuyết pháp, ông đừng nghĩ như thế.

 

Bởi vì sao? Vì nếu người nào nói rằng: Đức Như Lai có thuyết pháp, thời là hủy báng đức Phật, không hiểu được nghĩa lý của Phật nói.

 

Này Tu Bồ Đề! Thuyết pháp đó chính thiệt không có pháp chi nói được, đó gọi là thuyết pháp."

 

Bấy giờ, ông Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Trong thời vị lai, chừng có chúng sanh nào nghe nói pháp này mà sanh lòng tin chăng?"

 

Đức Phật dạy rằng: "Này Tu Bồ Đề! Chúng sanh kia chẳng phải chúng sanh, cũng chẳng phải là không phải chúng sanh. (29)

 

Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Những chúng sanh đó, đức Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, đó tạm gọi là chúng sanh". (30)

 

22. KHÔNG PHÁP CHI CÓ THỂ ĐẶNG

 

Ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không có chỗ chi là được sao?"

 

Đức Phật dạy rằng: "Đúng thế! Đúng thế! Này Tu Bồ Đề! Ta ở nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nhẫn đến không có chút pháp chi có thể gọi là được đó mới gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".

 

23. TỊNH TÂM HÀNH THIỆN

 

Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Pháp đó bình đẳng, không có cao, thấp, đó gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Do vì không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả, mà tu tất cả pháp lành, liền được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Này Tu Bồ Đề! Pháp lành đã nói đó đức Như Lai nói chính chẳng phải pháp lành đó gọi là pháp lành.

 

24. PHƯỚC ĐỨC TRÍ TUỆ KHÔNG CHI SÁNH BẰNG

 

Này Tu Bồ Đề! Như trong cõi tam thiên, đại thiên, có bao nhiêu núi chúa Tu Di, nếu có người góp cả bảy thứ báu lại, bằng những núi Tu Di đó, đem dùng mà bố thí.

 

Nơi kinh Bát nhã Ba la mật này nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v... nếu có người thọ trì, đọc tụng, giảng nói cho kẻ khác nghe, thời phước đức của người bố thí trước, sánh không bằng một phần trăm, một phần nghìn, muôn ức, cho đến tính đếm thí dụ đều chẳng bằng được.

 

25. HÓA ĐỘ KHÔNG NGƯỜI ĐƯỢC HÓA ĐỘ

 

Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Các ông chớ cho rằng đức Như Lai nghĩ như vầy: Ta phải hóa độ chúng sanh. Này Tu Bồ Đề! Ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì thiệt không có chúng sanh nào đức Như Lai độ cả. Nếu có chúng sanh mà đức Như Lai độ đó, thời đức Như Lai còn có tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

 

Này Tu Bồ Đề! Đức Như Lai nói có ngã đó chính chẳng phải có ngã, mà kẻ phàm phu lại cho là có ngã.

 

Này Tu Bồ Đề! Phàm phu đó, đức Như Lai nói chính chẳng phải phàm phu, đó tạm gọi là phàm phu.

 

26. PHÁP THÂN KHÔNG PHẢI SẮC TƯỚNG

 

Này Tu Bồ Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do nơi ba mươi hai tướng mà xem là đức Như Lai chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Đúng thế! Đúng thế! Do nơi ba mươi hai tướng mà xem là đức Như Lai".

 

Đức Phật dạy rằng: "Này Tu Bồ Đề! Nếu do nơi ba mươi hai tướng mà xem là đức Như Lai đó, thời vua Chuyển Luân Thánh Vương chính là đức Như Lai rồi!" (31)

 

Ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Theo như con hiểu nghĩa lý của đức Phật nói, thời chẳng nên do nơi ba mươi hai tướng mà xem là đức Như Lai".

 

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

 

Nếu dùng sắc thấy ta,

Dùng tiếng tăm cầu ta,

Người ấy tu đạo tà!

Chẳng thấy được Như Lai.

 

27. KHÔNG ĐOẠN KHÔNG DIỆT

 

Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ thế này: Đức Như Lai, không phải vì có tướng cụ túc mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác!

 

Tu Bồ Đề! Ông cũng đừng nghĩ như vầy: Đức Như Lai há chẳng do nơi tướng cụ túc mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sao?

 

Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ như vầy: Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nói các pháp đều đoạn diệt. Ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì nơi các pháp, người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không nói tướng đoạn diệt.

 

28. CHẲNG NHẬN LẤY CHẲNG THAM

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ tát đem bảy thứ báu đầy cả những cõi nước bằng số cát sông Hằng để làm việc bố thí.

 

Nếu lại có người biết lý vô ngã của tất cả pháp mà đặng thành nhẫn trí. (32) Vị Bồ tát này được công đức hơn phước đức của vị Bồ tát trước. Bởi vì sao? Này Tu Bồ Đề! Vì các vị Bồ tát không nhận lấy phước đức."

 

Ông Tu Bồ Đề bạch với đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Tại sao các vị Bồ tát không nhận lấy phước đức?"

 

"Này Tu Bồ Đề! Vị Bồ tát phàm có làm việc phước đức thời chẳng nên tham trước, vì thế nên nói là chẳng nhận lấy phước đức.

 

29. OAI NGHI VẮNG LẶNG

 

Này Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: Đức Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm, thời người ấy không hiểu nghĩa của Phật nói.

 

Bởi vì sao? Vì Như Lai đó, không từ nơi nào lại, mà cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai!

 

30. NGHĨA LÝ NHỨT HIỆP TƯỚNG

 

Này Tu Bồ Đề! Như có trang thiện nam, người thiện nữ, đem cõi tam thiên đại thiên đập nát ra vi trần. Nơi ý ông nghĩ thế nào? Các vi trần đó có nhiều chăng?"

 

Ông Tu Bồ Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều. Bởi vì sao? Vì nếu những vi trần đó là thiệt có, thời đức Phật chẳng nói là những vi trần.

 

Vì cớ sao thế? Vì đức Phật nói những vi trần chính chẳng phải những vi trần, đó gọi là những vi trần.

 

Bạch đức Thế tôn! Cõi tam thiên, đại thiên của đức Như Lai nói, chính chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới. Bởi vì sao? Vì nếu thế giới là thiệt có ấy, thời là một hợp tướng.

 

Đức Như Lai nói một hợp tướng chính chẳng phải một hợp tướng, đó gọi là một hợp tướng". (33)

 

"Này Tu Bồ Đề! Một hợp tướng đó bèn là chẳng thể nói được, chỉ nơi kẻ phàm phu tham trước việc ấy thôi.

 

31. TRI KIẾN KHÔNG SANH

 

Này Tu Bồ Đề! Như có người nói: Đức Phật nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. (34) Nơi ý của ông nghĩ thế nào? Người ấy hiểu nghĩa lý của Phật nói chăng?"

 

"Bạch đức Thế Tôn! Không. Người ấy không hiểu nghĩa lý của đức Phật nói. Bởi vì sao? Đức Thế tôn nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, chính chẳng phải ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, đó gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến".

 

"Này Tu Bồ Đề! Nơi tất cả pháp, người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác phải biết như thế, thấy như thế, tin hiểu như thế, chẳng sanh pháp tướng.

 

Này Tu Bồ Đề! Pháp tướng nói ra đó, đức Như Lai nói chính là không phải pháp tướng, đó gọi là pháp tướng.

 

32. ỨNG HÓA KHÔNG PHẢI CHƠN THẬT

 

Này Tu Bồ Đề! Như có người đem bảy thứ báu đầy cả vô lượng vô số cõi nước để làm việc bố thí. Như có trang thiện nam, người thiện nữ nào, phát tâm Bồ đề, thọ trì kinh này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v... tự mình thọ trì, đọc tụng, lại giảng cho kẻ khác nghe, thời phước đức của người này hơn người trước.

 

Giảng nói cho người khác nghe như thế nào?:

 

"Không chấp lấy nơi tướng, như như chẳng động?"

 

Bởi vì sao?

 

Tất cả những pháp hữu vi

Khác nào mộng, huyễn, khác gì điện, sương.

Như bóng nước, như ảnh tượng.

Xét suy như thế cho thường chớ quên! (33)

 

33. TIN NHẬN VÂNG LÀM

 

Đức Phật nói kinh này xong, ông Trưởng Lão Tu Bồ Đề cùng với các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tất cả Trời, Người, A tu la v.v... trong thế gian, nghe những lời của Đức Phật dạy, thảy đều rất vui mừng, tin nhận, vâng theo tu hành.

 

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

 

KIM CANG CHÂN NGÔN:

 

Án, hô rô, hô rô, xả duệ, mục khế, tá ha. (7 lần)

 

PHỔ HỒI HƯỚNG CHÂN NGÔN:

 

Án, Ta ma ra, Ta ma ra, Nhĩ ma nẵng tát cót ra. Ma ha, chước ca ra hồng. (7 lần)

 

Nhứt hồi hướng: Chân như thiệt tế tâm tâm khế hiệp.

 

Nhị hồi hướng: Vô thượng Phật quả, bồ đề niệm niệm viên mãn.

 

Tam hồi hướng: Pháp giới nhứt thiết chúng sanh đồng sanh Tịnh độ.

 

TÁN VIẾT:

 

Kim cang công đức,

Diệu lý nan lường,

Như Lai vị chúng quảng tuyên dương.

Thọ thí ngộ chân thường,

Dĩ chư hoa hương.

Phổ tán Pháp Trung Vương.

 

NAM MÔ KỲ VIÊN HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT. (3 Lần)

 

 

Thích Nghĩa Kinh Kim Cang

 

(1) Bát nhã (Phạm âm) Tàu dịch là Trí Huệ. Ba la mật (Phạm âm) Tàu dịch là Đáo Bỉ Ngạn (ý nói trọn nên hoàn toàn). Trí huệ hoàn toàn này có thể phá tất cả sự mê lầm trong thế gian và xuất thế gian, mà không có điều mê lầm nào phạm đến được, dụ như Kim Cang (một chất rất cứng có thể phá vỡ các chất khác, không chất gì cứng bằng).

 

(2) Xem lời thích nghĩa ở sau kinh A Di Đà.

 

(3) Theo thứ tự ghé từng mà khất thực đó là sau khi ghé nhà thứ nhứt liền ghé vào nhà kế bên (nếu đồ ăn chưa đủ dùng), tuần tự như thế nào cho đến khi vừa đủ ăn thì thôi. Không chọn nhà này bỏ nhà kia, mặc dầu là nhà giàu hay nhà nghèo, nhà sang hay nhà hèn. Đó là lòng Từ bi bình đẳng của đức Phật lưu lộ ra nơi cử chỉ vậy. Đức Phật đi khất thực là ý muốn cho mọi người được thấy nghi dung của Phật mà sinh lòng lành mộ đạo từ bi và để cho mọi người được phước, vì cúng dường cho đức Phật thời được phước đức rất lớn. Đức Phật là Vô thượng phước điền của tất cả chúng sanh!

 

(4) Tu Bồ Đề (Phạm âm) dịch là không sanh, là bực đại A La Hán, ngài tỏ ngộ lý chơn không bực nhứt trong hàng Thanh văn.

 

(5) Hộ niệm là để ý nghĩ nhớ đến hầu giúp đỡ cho.

 

(6) Phó chúc là giao phó dặn dò.

 

(7) Noãn sanh là loài từ trứng nở ra, như chim...

 

Thai sanh là loài từ bào thai đẻ ra như người...

 

Thấp sanh là loài từ chỗ ẩm ướt sanh ra, như trùn, đốm...

 

Hóa sanh là loài do sự biến chuyển hóa ra như Trời, địa ngục...

 

Có sắc là loài có sắc thân, nhu chúng sanh ở cõi dục cõi sắc.

 

Không sắc là loài không có thân bằng sắc chất, như chúng sanh ở cõi vô sắc.

 

Có tưởng là loài có tưởng gẫm suy nghĩ, như người.

 

Không tưởng là loài không tưởng gẫm suy nghĩ, như Trời Vô Tưởng.

 

Không phải có tưởng không phải chẳng có tưởng là loài không có sự tưởng gẫm thô mà có sự tưởng gẫm vi tế, như Trời Phi Phi Tưởng.

 

(8) Diệt độ là độ cho chúng sanh dứt sạch phiền não nghiệp chướng khỏi tất cả điều khổ lụy.

 

Vô dư Niết bàn là vắng bặt tất cả phiền não, nghiệp chướng và khổ lụy không còn sót thừa (cảnh giới của chư Phật).

 

(9) Dầu vẫn bố thí luôn luôn mà trong lòng không thấy có mình là người bố thí kẻ khác là người thọ thí và đồ vật v.v... là của bố thí. Lòng vắng lặng không để dính, mắc vào một điều gì, một sự gì nên gọi là không trụ trước. Không trụ trước thời lòng rỗng rang như hư không, nên phước đức cũng rộng lớn như hư không.

 

(10) Bốn hướng cạnh là Đông nam, Đông bắc, Tây nam, Tây bắc.

 

(11) Thân tướng là thân sắc vàng sáng chói đủ tướng tốt đẹp của Phật.

 

(12) Thuyền bè là vật tạm dùng để đưa người qua sông, đến bờ thời bỏ bè lên bộ. Giáo pháp của Phật cũng thế là những môn phương tiện đưa người tu hành qua khỏi sông mê, biển khổ. Khi lên bờ giác thì bỏ phương tiện.

 

(13) Pháp là pháp lành, pháp chánh, pháp Thánh, pháp Phật v.v...

 

Phi pháp là pháp ác, pháp tà, pháp phàm, pháp chúng sanh v.v...

 

(14) Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là quả vị cứu cánh của chư Phật mà cũng là bản thể chơn thật thanh tịnh của tất cả muôn loài, nơi đó, tuyệt vòng đối đãi, rời tướng ngữ ngôn, rời tướng văn tự, dứt tâm tư, bặt ý niệm... Nếu Vô thượng Chánh giác mà lời nói đến được, thời còn trong phạm vi tướng ngữ ngôn, là hư vọng, không phải thật Vô thượng Chánh giác. Nếu là thật Vô thượng Chánh giác thời không thể dùng lời nói kêu gọi được.

 

Pháp của đức Phật nói cũng như thế, rời tất cả tướng, dứt tư niệm, không thể cho là có, cũng không thể cho là không. Rời tất cả tướng nên không thể nói được, dứt tư niệm nên không thể duyên lấy, không phải có nên chẳng phải pháp, không phải không nên chẳng phải không phải pháp. Đó cũng gọi là vô vi pháp. Vô vi pháp vẫn tuyệt đối mà do nơi vô vi pháp tu hành lại có các bực Hiền Thánh cao thấp khác nhau ấy, chỉ bởi vì chỗ chứng ngộ của các ngài không đồng nhau đấy thôi.

 

(15) Thể tánh chơn thật làm tướng chung cho tất cả pháp, bình đẳng không có tướng sai khác, nên gọi là nhứt tướng.

 

(16) Trong Thanh văn thừa có 4 quả vị; trong 4 quả vị này do sự tu hành dứt kiến hoặc và tư hoặc trong tam giới mà chứng đặng. Kiến hoặc trong tam giới có 88 món, dứt sạch 88 món kiến hoặc thời thoát khỏi phàm phu dự vào hàng Thánh (Nhập lưu cũng gọi là Dự lưu, tiếng Phạn Tu Đà Hoàn), đây là quả vị thứ nhất.

 

Về tư hoặc, ở cõi dục có 9 phẩm, cõi sắc và vô sắc chung có 72 phẩm. Sau khi chứng bực Tu Đà Hoàn (đã dứt 88 món kiến hoặc) thời phải tu hành dứt tư hoặc. 9 phẩm tư hoặc cõi dục nó làm cho vị Tu Đà Hoàn phải bị 7 đời sanh tử ở cõi dục. Dứt được 6 phẩm trước thời chỉ còn 1 lần sanh tử ở cõi dục nên gọi là Nhứt lai (Tư Đà Hàm, Phạm âm) đây là quả vị thứ 2. Dứt luôn 3 phẩm sau thời không còn bị sanh vào cõi dục nữa nên gọi là Bất lai (A Na Hàm, Phạm âm) đây là quả vị thứ 3. Dứt sạch luôn cả 72 phẩm tư hoặc cõi sắc và vô sắc thời thoát hẳn vòng sanh tử luân hồi nên gọi Vô sanh (A La Hán, Phạm âm) đây là quả vị thứ 4.

 

(17) Vô tránh Tam muội là môn chánh định cao siêu hơn hết trong các môn chánh định của hàng Thanh văn.

 

(18) Tu Di (xem lời thích nghĩa sau kinh A Di Đà).

 

(19) Hàng tôn trọng đệ tử của đức Phật như các ngài: Xá Lợi Phất, Ma Ha Ca Diếp v.v...

 

(20) Vi trần là bụi nhỏ.

 

Tam thiên đại thiên thế giới (xem lời thích nghĩa sau kinh A Di Đà).

 

(21) Trên thân Phật có 32 tướng tốt:

 

1. Nhục kế (đỉnh đầu thịt nổi vun lên rất đẹp),

 

2. Lông trắng giữa chặn hai chơn mày (bạch hào),

 

3. Tròng mắt đen trắng phân minh,

 

4. Lông nheo như của Ngưu Vương,

 

5. Gương mặt tròn trịa đầy đặn như trăng rằm,

 

6. Răng đủ 40 cái,

 

7. Răng nhỏ đều khít khao,

 

8. Răng trắng trong tinh sạch,

 

9. Lưỡi rộng dài, khi le ra có thể trùm cả mặt đến mí tóc,

 

10. Tiếng nói thanh tao và nghe được rất xa,

 

11. Trong cổ hầu thường có chất nước trong cổ rịn ra,

 

12. Thân mình nở nang tròn suông,

 

13. Mã âm tàng,

 

14. Hai bên hông đầy đặn,

 

15. Hai tay dài quá gối,

 

16. Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông,

 

17. Ngón tay dài và vót,

 

18. Vế như của Lộc Vương,

 

19. Lưng hai bàn chân no tròn,

 

20. Lòng bàn chân bằng phẳng,

 

21. Gót chân tròn trịa,

 

22. Lòng bàn chân có chỉ xoáy rõ ràng như bánh xe nghìn cọng,

 

23. Ngón tay và ngón chân đều có da mỏng như lưới mịn, trong suốt như pha lê dính liền nhau,

 

24. Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn (2 lòng bàn tay, 2 lòng bàn chân, hai vai, yết hầu),

 

25. Tất cả lỗ chân lông đều có lông đẹp,

 

26. Lông và tóc đều xoắn tròn về phía hữu,

 

27. Da mịn màng trơn láng,

 

28. Màu da như màu vàng ròng tử kim,

 

29. Thân hình cao lớn hơn mọi người,

 

30. Hình tướng đoan nghiêm,

 

31. Thân hình ngay thẳng vững vàng,

 

32. Thường có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm.

 

Trên đây là 32 tướng chánh, còn có rất nhiều tướng tốt khác như bát thập tùy hình hảo v.v...

 

(22) Nghĩa thú là nghĩa lý và chỉ thú.

 

(23) Thuở quá khứ, nước Ba La Nại, có vị quốc vương hiệu Ca Lợi. Một hôm Vua dẫn quan quân và cung phi đi du ngoạn cảnh núi rừng. Trong khi nhà Vua nằm nghỉ dưới bóng cây vì mỏi mệt, các cung phi rủ nhau đi hái hoa rừng để đem về hiến Vua. Trên gộp đá, các cung phi gặp một nhà tu dung nghi oai nghiêm khác thường, Đại Tiên Sằn Đề Ba La đang tịnh tọa! Tỏ lòng kính ngưỡng, các cung phi đồng dâng hoa cúng dường Đại Tiên rồi chỉnh tề ngồi hai bên nghe Đại Tiên giảng dạy đạo lý.

 

Vừa lúc đó Vua và quan quân kéo đến. Thấy cung phi mình kính ngưỡng Đại Tiên, nhà Vua không bằng lòng, liền đến trước gộp đá.

 

- Người ở đây làm việc gì? Nhà Vua hỏi gằn từng tiếng một.

 

- Tôi ở đây tu hạnh nhẫn nhục. Đại Tiên thong thả đáp.

 

- Để ta thử ngươi! Vua Ca Lợi nói với một giọng mỉa mai đầy căm tức. Dứt lời, Vua tuốt gươm chặt cụt hai cánh tay của Đại Tiên rồi hỏi tiếp: “Người ở đây làm việc gì?”

 

- Tôi ở đây tu hạnh nhẫn nhục. Đại Tiên ung dung đáp. Càng tức giận, nhà Vua chặt luôn cả hai chân rồi kế đến lại lắc tai lắc mũi của Đại Tiên. Mỗi lần như thế Vua đều hỏi: “Người ở đây làm việc gì?” Mắt không nháy, mặt không đổi sắc, với một giọng nhã nhặn hiền từ, Đại Tiên vẫn thản nhiên đáp: “Tôi ở đây tu hạnh nhẫn nhục”.

 

Thấy tư cách phi thường của Đại Tiên, nhà Vua đổi giận làm sợ. Đại Tiên lại dịu dàng nói đến Vua: “Nay nhà Vua lấy gươm sắt chặt đứt thi thể của ta, sau này, khi ta thành Phật, ta sẽ dùng gươm trí tuệ mà dứt giùm ác tâm của nhà Vua, để độ Vua trước nhất”.

 

Gươm rời khỏi tay, cả mình rởn ốc, nhà Vua bất giác sụp quỳ trước hạnh nhẫn nhục, tinh thần cao quý Vô thượng của Đại Tiên!

 

Vị Đại Tiên đó thuở xưa là đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay. Vua Ca Lợi ngày trước bây giờ là Kiều Trần Như vị Đại A La Hán được đức Phật độ trước nhất nơi Lộc Uyển.

 

(24) Không thiệt không hư nghĩa là không trụ trước vào tướng có và tướng không. Không trụ trước mới phải là pháp Vô thượng Chánh giác của Phật.

 

(25) Đi nhiễu quanh về phía hữu (từ Đông qua Nam Tây Bắc Đông) là tỏ vẻ cung kính thuận tùng.

 

(26) Như như bất động.

 

(27) Ngã là phần tác động chủ tể, như Phật, Bồ tát v.v... Pháp là phần thể chất, hình tượng, nghĩa lý, tức là những sự những điều có tánh cách riêng định có thể nhận đến được như: trang nghiêm, Phật độ, v.v...

 

Đức Phật dạy: “Không có pháp chi gọi là Bồ tát”. Đó là không ngã. Đức Phật lại dạy: “Như Lai nói trang nghiêm Phật độ chính chẳng phải trang nghiêm”. Đó là nói không pháp.

 

(28) Ngũ nhãn:

 

1. Nhục nhãn (mắt thịt), mắt thường bằng chất tứ đại (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại) hiệp thành.

 

2. Thiên nhãn, tác dụng của sự thấy được xa trăm nghìn muôn ức dặm cho đến nhiều thế giới, thấy đến vật rất nhỏ như vi trùng, vi tử, khí chất v.v... và thấy suốt qua các chất ngại. Có 2 thứ Thiên nhãn: a) Sanh đắc Thiên nhãn: Thiên nhãn do phước báo mà cảm sanh ra, như Thiên nhãn của các cõi Trời. b) Tu đắc Thiên nhãn: Thiên nhãn do công phu tu tập chứng đạo quả mà có, như Thiên nhãn của A La Hán, Bồ tát, Phật. Thiên nhãn sau này hơn Thiên nhãn trên. Thù thắng nhất là của Phật. Tất cả vô lượng vô biên thế giới chúng sanh khắp trong pháp giới, Thiên nhãn của đức Phật thấy rõ ràng cả thảy.

 

3. Huệ nhãn, tác dụng của sự chứng thấu tánh thể không tịch vô ngã. Từ bực Thánh A La Hán trở lên mới có huệ nhãn. Các cõi Trời đến các loài dưới (phàm phu) đều không có.

 

4. Pháp nhãn, tác dụng của sự soi suốt huyễn trạng của hiện tượng tùy duyên vô pháp. Từ bực đại Bồ tát đến Phật mới có pháp nhãn, A La Hán trở xuống đều không có.

 

5. Phật nhãn, trí huệ viên mãn cứu cánh của Phật.

 

(29) Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh (Bồ đề tánh) nên nói chẳng phải chúng sanh. Nhưng không tự nhận lấy Phật tánh nên nói chẳng phải là không phải chúng sanh.

 

(30) Chúng sanh chúng sanh là nhiều loài chúng sanh. Tất cả chúng sanh đều sẵn đủ giống bát nhã nên đức Như Lai nói chẳng phải chúng sanh. Sẵn đủ mà chưa hiển lộ nên gọi là chúng sanh.

 

(31) (32) Tướng là tướng của ứng thân huyễn chất; còn pháp tánh thân mới thật là Như Lai. Thân vua chuyển luân cũng đủ 32 tướng, mà vua chuyển luân vẫn là phàm phu chớ chẳng phải Như Lai. Vì thế chỉ nhận 32 tướng nơi ứng thân mà cho là thật Như Lai thời chưa phải. Như Lai pháp thân rời tất cả sắc tướng, nên ở nơi sắc tướng mà thấy mà cầu Như Lai thời không thể thấy đặng. Vậy thời như thế nào? Đức Phật dạy: “Phàm hễ có tướng đều là hư vọng cả, nếu thấy các tướng đều là không phải tướng thời chính là thấy Như Lai.

 

(32) Hiểu biết nhân thật quyết định lý vô ngã của các pháp, gọi là vô sanh pháp nhẫn.

 

(33) Hiệp tướng là nhiều thứ hội hiệp làm thành một tướng thế giới.

 

(34) Ngã kiến, nhơn kiến v.v... là tình chấp cho có tướng ngã, tướng nhơn v.v...

 

(35) Mộng: cảnh giới trong chiêm bao.

 

Huyễn: những cảnh vật do huyễn thuật phù chú hóa hiện ra.

 

Điển: chớp nháng.

 

Sương: sương mù.

 

Bóng nước: bong bóng nổi trên mặt nước.

 

Ảnh tượng: bóng hình hiện ra trong gương, trong nước.

 

Pháp hữu vi: pháp do thi vi tạo tác mà có. Phàm tất cả những vật, những sự, những điều gì... bất luận thuộc về vật chất hay tinh thần trong thế gian cùng xuất thế gian, mà do nhơn duyên chi phối cấu tạo hòa hiệp làm thành, đều thuộc về pháp hữu vi cả. Do nhơn duyên chi phối mà có, nên đều là không thật thể, như mộng, như huyễn v.v...

Comments

Popular posts from this blog