Nam-mô Diệm-Nhiên Vương Bồ-tát (3 lần)

 

Mãnh-hỏa diệm diệm chiếu thiết-thành,
Thi
ết-thành lý diện nhiệt cô-hồn,
Cô-h
ồn nhược yếu sanh tịnh-độ,
Thính t
ụng Hoa-Nghiêm bán kệ kinh:

 

Nhược nhơn dục liểu tri,
Tam th
ế nhứt thiết Phật,
Ưng quán pháp-giới tánh,
Nh
ứt thiết duy tâm tạo.

 

(NGHI THỨC
MÔNG S
ƠN THÍ THỰC)

 

Thuở xưa, tại đất Kinh Triệu, có ông Vương-Minh-Cán là người vẫn tạo ác nghiệp, một hôm, nhân bịnh ngặt chết giấc tự thấy có hai người dẫn đường, thấy có một vị Tăng-sĩ bảo rằng : “Đức Địa-Tạng Bồ-tát dạy người đọc lấy bài kệ “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhứt thế Phật, ưng quán pháp giới tánh, Nhứt thiết duy tâm tạo.” ( Người tụng bài kệ ấy, có thể vẹt được cái khổ nơi địa ngục).

Đó, rồi y vào yết kiến Diêm Vương, Vương hỏi : Ngươi có làm được công đức chi không ? Y đáp : chỉ mới thụ trì được một bài kệ, kế tụng lại bài kệ trên. Tiếng vang cả địa-ngục, tội nhân đều được thoát ra … ba ngày y sống tỉnh lại được y đi hỏi thăm các vị Tăng-sĩ và Cư-sĩ, mới biết bài kệ kinh Hoa Nghiêm…

Ôi ! Chỉ tụng có một bài kệ, còn đắc ứng nghiệm như thế huống là tụng toàn bộ kinh ư !

 

(NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI)

 

 

Lúc đó Giác-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Ví như họa-sư kia

Phân bố những màu sắc

Hư-vọng lấy dị-tướng

Ðại-chủng không sai khác.

 

Trong đại-chủng không sắc

Trong sắc không đại-chủng

Cũng chẳng ngoài đại-chủng

Mà có được màu sắc.

 

Trong tâm, không màu vẽ

Trong màu vẽ, không tâm

Nhưng chẳng rời nơi tâm

Mà có được màu vẽ.

 

Tâm đó luôn chẳng trụ

Vô-lượng khó nghĩ bàn

Thị-hiện tất cả sắc

Ðều riêng chẳng biết nhau.

 

Ví như nhà họa-sư

Chẳng biết được tự-tâm

Mà do tâm nên vẽ

Các pháp-tánh như vậy.

 

Tâm như nhà họa-sư

Hay vẽ những thế-gian

Ngũ-uẩn từ tâm sanh

Không pháp gì chẳng tạo.

 

Như tâm, Phật cũng như vậy

Như Phật, chúng-sanh đồng

Phải biết Phật cùng tâm

Thể-tánh đều vô-tận.

 

Nếu người biết tâm hành

Bảo khắp các thế-gian

Người này thời thấy Phật

Rõ Phật chơn-thật-tánh.

 

Tâm chẳng trụ nơi thân

Thân chẳng trụ nơi tâm

Mà làm được phật-sự

Tự-tại chưa từng có.

 

Nếu người muốn rõ biết

Tất cả Phật ba đời

Phải quán pháp-giới-tánh

Tất cả duy tâm tạo.

( Nhược nhơn dục liểu tri,
Tam thế nhứt thiết Phật,
Ưng quán pháp-giới tánh,
Nhứt thiết duy tâm tạo.)

 


 Nam mô Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật 

Biến Pháp-giới Tam-Bảo



Nam-Mô Hoa-Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)


 

ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT 

HOA NGHIÊM KINH

 

 

PHẨM DẠ MA CUNG KỆ TÁN

THỨ HAI MƯƠI

 

 

Lúc đó do thần-lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ-Tát, mỗi vị đều cùng phật-sát vi-trần-số Bồ-Tát câu hộI, từ những thế-giới ngoài mười vạn phật-sát vi-trần-số quốc-độ mà đến.

Tên của mười vị Bồ-Tát đó là :

Công-Ðức-Lâm Bồ-Tát, Huệ-Lâm Bồ-Tát, Thắng-Lâm Bồ-Tát, Vô-Úy-Lâm Bồ-Tát, Tàm-Quý-Lâm Bồ-Tát, Tinh-Tấn-Lâm Bồ-Tát, Lực-Lâm Bồ-Tát, Hạnh-Lâm Bồ-Tát, Giác-Lâm Bồ-Tát, Trí-Lâm Bồ-Tát.

Quốc-độ của các Ngài từ đó mà đến theo thứ-tự là :

Thân-Huệ thế-giới, Tràng-Huệ thế-giới, Bửu-Huệ thế-giới, Thắng-Huệ thế-giới, Ðăng-Huệ thế-giới, Kim-Cang-Huệ thế-giới, An-Lạc-Huệ thế-giới, Nhựt-Huệ thế-giới, Tịnh-Huệ thế-giới, Phạm-Huệ thế-giới.

Chư Phật Thế-Tôn nơi thế-giới đó theo thứ tự là :

Thường-Trụ-Nhãn Phật, Vô-Thắng-Nhãn Phật, Vô-Trụ-Nhãn Phật, Bất-Ðộng-Nhãn Phật, Thiên-Nhãn Phật, Giải-Thoát-Nhãn Phật, Thẩm-Ðế-Nhãn Phật, Minh-Tướng-Nhãn Phật, Tối-Thượng-Nhãn Phật, Cám-Thanh-Nhãn Phật.

Chư Bồ-Tát này đến dưới bửu-tòa đảnh lễ Phật, rồi theo phương của mình đến đều riêng hóa hiện tòa sư-tử liên-hoa-tạng mà ngồi kiết-già trên đó.

Tất cả Dạ-Ma thiên ở thập-phương thế-giới đều như thế cả. Bồ-Tát, quốc-độ và Như-Lai cũng đồng danh, đồng hiệu như trên.

Lúc đó đức Thế-Tôn, từ trên hai bàn chân, phóng ra trăm ngàn ức quang-minh màu đẹp chiếu khắp thập phương thế-giới. Tất cả đạo-tràng, Phật và Bồ-Tát đều hiển hiện cả.

Bấy giờ, Công-Ðức-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Phật phóng đại quang-minh

Chiếu khắp nơi mười phương

Ðều thấy Thiên-Nhơn-Tôn

Thông đạt không chướng-ngại.

 

Phật ngồi cung Dạ-Ma

Khắp cùng mười phương cõi

Việc này rất lạ lùng

Thế-gian rất hi-hữu.

 

Trời Dạ-Ma Thiên-Vương

Ca ngợi mười Như-Lai

Như hội này đã thấy

Tất cả hội cũng vậy.

 

Những chúng Bồ-Tát kia

Ðồng hiệu với chúng tôi

Thập phương tất cả chỗ

Diễn thuyết-pháp vô-thượng.

 

Bổn-quốc của các ngài

Danh-hiệu cũng không khác

Ðều riêng nơi bổn-Phật

Tịnh tu các phạm-hạnh.

 

Các đức Như-Lai kia

Danh-hiệu cũng đều đồng

Quốc-độ đều giàu vui

Thần-lực đều tự-tại.

 

Tất cả chúng mười phương

Ðều thấy Phật ở đây

Hoặc thấy ở nhơn-gian

Hoặc thấy ở Thiên-cung.

 

Như-Lai an-trụ khắp

Tất cả các quốc-độ

Nay chúng tôi thấy Phật

Ở tại Thiên-cung này.

 

Xưa phát nguyện bồ-đề

Khắp đến mười phương cõi

Nên oai-lực của Phật

Cùng khắp khó nghĩ bàn.

 

Lìa sự tham thế-gian

Ðầy đủ vô-biên đức

Nên được sức thần-thông

Chúng-sanh đều thấy cả.

 

Du hành mười phương cõi

Như hư-không vô-ngại

Một thân vô-lượng thân

Thân-tướng bất-khả-đắc.

 

Phật công-đức vô-biên

Thế nào lường biết được

Không dừng cũng không đi

Vào khắp trong pháp-giới.

 

Huệ-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Ðấng đạo-sư thế-gian

Ðấng ly-cấu vô-thượng

Bất-khả-tư-nghị kiếp

Khó được gặp gỡ Phật.

 

Phật phóng đại quang-minh

Thế-gian đều khắp thấy

Vì chúng rộng diễn bày

Lợi ích những quần-sanh.

 

Như-Lai xuất thế-gian

Vì đời trừ si tối

Là đèn sáng thế-gian

Hi-hữu khó thấy được.

 

Ðã tu thí, giới, nhẫn

Tinh-tấn và thiền-định

Bát-nhã ba-la-mật

Dùng đây chiếu thế-gian.

 

Như-Lai không ai bằng

Muốn sánh chẳng thể được

Chẳng rõ pháp chơn-thiệt

Thời không thể thấy Phật.

 

Thân Phật và thần-thông

Tự-tại khó nghĩ bàn

Không đi cũng không đến

Thuyết-pháp độ chúng-sanh.

 

Nếu ai được thấy nghe

Ðấng đạo-sư thanh-tịnh

Thoát hẳn các ác-đạo

Xa lìa tất cả khổ.

 

Vô-lượng vô-số kiếp

Tu tập hạnh bồ-đề

Chẳng thể biết nghĩa này

Chẳng thể được thành Phật.

 

Bất-khả-tư-nghị kiếp

Cúng-dường vô-lượng Phật

Nếu biết được nghĩa này

Công-đức hơn công kia.

 

Cúng Phật với trân bửu

Ðầy cả vô-lượng cõi

chẳng biết được nghĩa này

Trọn chẳng thành bồ-đề.

 

Lúc đó Thắng-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của Phật,quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng:

 

Ví như tháng mạnh-hạ

Không tịnh không mây mù

Mặt trời phóng quang-huy

Thập phương đều sáng chói.

 

Quang-minh không hạn lượng

Không ai lường biết được

Người mắt sáng còn vậy

Huống là kẻ mù lòa.

 

Chư Phật cũng như vậy

Công-đức vô-biên-tế

Bất-khả-tư-nghị kiếp

Chẳng thể phân-biệt biết.

 

Các pháp không lai-xứ

Cũng không có tác giả

Cũng không từ đâu sanh

Chẳng thể phân-biệt được.

 

Tất cả pháp không đến

Vì thế nên không sanh

Vì đã không có sanh

Nên cũng không có diệt.

 

Tất cả pháp vô-sanh

Tất cả pháp vô-diệt

Nếu biết được như vậy

Người này thấy được Phật.

 

Vì các pháp vô-sanh

Nên không có tự-tánh

Phân-biệt biết như vậy

Người này đạt thâm nghĩa.

 

Do vì pháp vô-tánh

Không thể rõ biết được

Nơi pháp hiểu như vậy

Rốt ráo không chỗ hiểu.

 

Nói rằng có sanh đó

Bởi hiện các quốc-độ

Biết được tánh quốc-độ

Thời tâm không mê-hoặc.

 

Tánh quốc-độ thế-gian

Quan-sát đều như thật

Nếu nơi đây biết được

Khéo nói tất cả nghĩa.

 

Vô-Úy-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Thân Như-Lai rộng lớn

Rốt ráo nơi pháp-giới

Chẳng rời bửu-tòa này

Mà khắp tất cả chỗ.

 

Nếu ai nghe pháp này

Mà cung-kính tin ưa

Rời hẳn ba ác-đạo

Tất cả những khổ nạn.

 

Giả-sử như có người

Qua vô-lượng thế-giới

Chuyên tâm muốn được nghe

Sức tự-tại của Phật.

 

Những phật-pháp như vậy

Là vô-thượng bồ-đề

Giả-sử muốn tạm nghe

Không ai có thể được.

 

Nếu ai thời quá-khứ

Tin phật-pháp như vậy

Ðã thành Lưỡng-Túc-Tôn

Làm đèn sáng thế-gian.

 

Nếu ai sẽ được nghe

Sức tự-tại của Phật

Nghe rồi có lòng tin

Người này sẽ thành Phật.

 

Nếu có người hiện-tại

Tin được phật-pháp này

Cũng sẽ thành chánh-giác

Thuyết-pháp vô-sở-úy.

 

Vô-lượng vô-số kiếp

Pháp này rất khó gặp

Nếu có người được nghe

Là do bổn-nguyện-lực.

 

Nếu ai thọ-trì được

Những phật-pháp như vậy

Trì xong rộng tuyên thuyết

Người này sẽ thành Phật.

 

Huống là siêng tinh-tấn

Lòng kiên-cố chẳng bỏ

Nên biết người như vậy

Quyết định thành bồ-đề.

 

Lúc đó Tàm-Quý-Lâm Bồ-Tát, thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Nếu ai được nghe pháp

Hi-hữu tự-tại này

Sanh được lòng hoan-hỷ

Chóng trừ lưới si lầm.

 

Bực thấy biết tất cả

Tự nói lời như vầy

Phật không gì chẳng biết

Vì thế khó nghĩ bàn.

 

Không có từ vô-trí

Mà sanh ra trí-huệ,

Thế-gian thường tối tăm

Nên không thể sanh được.

 

Như sắc và phi-sắc

Hai đây chẳng là một

Trí vô-trí cũng vậy

Thể nó đều sai biệt.

 

Như tướng cùng vô-tướng

Sanh tử với niết-bàn

Phân biệt đều chẳng đồng

Trí, vô-trí cũng vậy.

 

Thế-giới mới thành lập

Không có tướng bại hoại

Trí, vô-trí cũng vậy

Hai thứ chẳng đồng thời.

 

Như Bồ-Tát sơ-tâm

Chẳng chung với hậu-tâm

Trí, vô-trí cũng vậy

Hai tâm chẳng đồng thời.

 

Ví như những thức-thân

Ðều riêng không hòa hiệp

Trí, vô-trí cũng vậy

Rốt ráo không hòa hiệp.

 

Như thuốc a-già-đà

Hay diệt tất cả độc

Có trí cũng như vậy

Hay diệt sự vô-trí.

 

Như-Lai không ai trên

Cũng không ai sánh bằng

Tất cả không so được

Thế nên khó gặp gỡ.

 

Tinh-Tấn-Lâm Bồ-Tát,thừa oai-lực của đức Phật,quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng:

 

Các pháp vô-sai-biệt

Không ai biết được đó

Chỉ Phật cùng Phật biết

Vì trí-huệ rốt ráo.

 

Như vàng và màu vàng

Tánh nó vô-sai-biệt

Pháp phi-pháp cũng vậy

Thể tánh vốn chẳng khác.

 

Chúng-sanh phi-chúng-sanh

Hai đều không chơn thật

Như vậy các pháp-tánh

Thật nghĩa đều chẳng có.

 

Ví như thời vị-lai

Không có tất cả tướng.

Các pháp cũng như vậy

Không có tất cả tướng.

 

Ví như tướng sanh diệt

Các thứ đều chẳng thiệt.

Các pháp đều cũng vậy

Tự-tánh vốn không có.

 

Niết-bàn bất-khả-thủ

Thời-gian nói có hai

Các pháp cũng như vậy

Phân-biệt có sai khác.

 

Như nương vật bị đếm

Mà có cái hay đếm

Tánh kia vốn không có

Nên rõ pháp như vậy.

 

Ví như pháp toán số

Thêm một đến vô-lượng

Phép đếm không thể-tánh

Vì trí nên sai khác.

 

Ví như các thế-gian

Kiếp hỏa có hư diệt

Hư-không chẳng tổn hư

Phật-trí cũng như vậy.

 

Như thập phương chúng-sanh

Ðều lấy tướng hư-không,

Chư Phật cũng như vậy

Thế-gian vọng phân-biệt.

 

Lúc đó Lực-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của Phật quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Tất cả chúng-sanh-giới

Ðều ở trong ba thời,

Những chúng-sanh ba thời

Ðều ở trong ngũ-uẩn.

 

Nghiệp là gốc của uẩn

Tâm là gốc các nghiệp

Tâm đó dường như huyễn

Thế-gian cũng như vậy.

 

Thế-gian chẳng tự làm

Chẳng phải cái khác làm

Mà nó được có thành

Cũng lại được có hoại.

 

Thế-gian dầu có thành

Thế-gian dầu có hoại

Người rõ thấu thế-gian

Chẳng nên nói hai việc.

 

Thế nào là thế-gian

Thế nào phi-thế-gian

Thế-gian phi-thế-gian

Chỉ là tên sai khác !

 

Tam-thế và ngũ-uẩn

Nói gọi là thế-gian

Nói diệt là phi-thế

Như vậy chỉ giả danh.

 

Sao gọi là các uẩn

Các uẩn có tánh gì

Tánh uẩn chẳng diệt được

Vì vậy nói vô-sanh.

 

Phân-biệt các uẩn này

Tánh nó vốn không tịch

Vì không, nên chẳng diệt

Ðây là nghĩa vô-sanh.

 

Chúng-sanh đã như vậy

Chư Phật cũng như vậy

Phật và các phật-pháp

Tự-tánh vốn không có.

 

Biết được các pháp này

Như thật không điên-đảo.

Người thấy biết tất cả

Thường thấy ở nơi trước.

 

Hạnh-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Ví như mười phương cõi

Tất cả những địa-chủng

Tự-tánh vốn không có

Không chỗ nào chẳng khắp.

 

Thân Phật cũng như vậy

Cùng khắp các thế-giới

Những sắc tướng sai khác

Không dừng, không chỗ đến.

 

Chỉ do vì các nghiệp

Nói tên là chúng-sanh

Cũng chẳng lìa chúng-sanh

Mà có được các nghiệp.

 

Nghiệp-tánh vốn không tịch

Chúng-sanh chỗ y-chỉ

Khắp làm các hình sắc

Cũng lại không chỗ đến.

 

Những hình sắc như vậy

Nghiệp-lực khó nghĩ bàn

Liễu đạt căn-bổn kia

Nơi trong, không chỗ thấy.

 

Thân Phật cũng như vậy

Chẳng thể nghĩ bàn được

Những sắc-tướng sai khác

Hiện khắp mười phương cõi.

 

Thân chẳng phải là Phật

Phật cũng chẳng phải thân

Chỉ lấy pháp làm thân

Thông đạt tất cả pháp.

 

Nếu thấy được thân Phật

Thanh-tịnh như pháp-tánh

Với tất cả phật-pháp

Người này không nghi lầm.

 

Nếu thấy tất cả pháp

Bổn-tánh như niết-bàn

Ðây thời thấy Như-Lai

Rốt ráo vô-sở-trụ.

 

Nếu tu tập chánh-niệm

Sáng tỏ thấy chánh-giác

Vô-tướng, vô-phân-biệt

Ðây gọi Pháp-Vương-Tử.

 

Lúc đó Giác-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Ví như họa-sư kia

Phân bố những màu sắc

Hư-vọng lấy dị-tướng

Ðại-chủng không sai khác.

 

Trong đại-chủng không sắc

Trong sắc không đại-chủng

Cũng chẳng ngoài đại-chủng

Mà có được màu sắc.

 

Trong tâm, không màu vẽ

Trong màu vẽ, không tâm

Nhưng chẳng rời nơi tâm

Mà có được màu vẽ.

 

Tâm đó luôn chẳng trụ

Vô-lượng khó nghĩ bàn

Thị-hiện tất cả sắc

Ðều riêng chẳng biết nhau.

 

Ví như nhà họa-sư

Chẳng biết được tự-tâm

Mà do tâm nên vẽ

Các pháp-tánh như vậy.

 

Tâm như nhà họa-sư

Hay vẽ những thế-gian

Ngũ-uẩn từ tâm sanh

Không pháp gì chẳng tạo.

 

Như tâm, Phật cũng như vậy

Như Phật, chúng-sanh đồng

Phải biết Phật cùng tâm

Thể-tánh đều vô-tận.

 

Nếu người biết tâm hành

Bảo khắp các thế-gian

Người này thời thấy Phật

Rõ Phật chơn-thật-tánh.

 

Tâm chẳng trụ nơi thân

Thân chẳng trụ nơi tâm

Mà làm được phật-sự

Tự-tại chưa từng có.

 

Nếu người muốn rõ biết

Tất cả Phật ba đời

Phải quán pháp-giới-tánh

Tất cả duy tâm tạo.

 

Trí-Lâm Bồ-Tát thừa oai-lực của đức Phật, quan-sát mười phương rồi nói kệ rằng :

 

Sở-thủ chẳng thể lấy

Sở-kiến chẳng thể thấy

Sở-văn chẳng thể nghe

Nhứt-tâm bất-tư-nghị.

 

Hữu-lượng và vô-lượng

Cả hai chẳng thể lấy

Nếu có ai muốn lấy

Rốt ráo chẳng thể được.

 

Chẳng nên nói mà nói

Ðây là tự khi dối

Việc mình chẳng thành-tựu

Chẳng khiến chúng vui mừng.

 

Có người muốn khen Phật

Vô-biên diệu-sắc thân

Tận cả vô-số kiếp

Không kể thuật hết được.

 

Vì như châu như-ý

Hay hiện tất cả màu

Không màu mà hiện màu

Chư Phật cũng như vậy.

 

Lại như hư-không sạch

Phi-sắc, chẳng thấy được

Dầu hiện tất cả sắc

Không ai thấy hư-không.

 

Chư Phật cũng như vậy

Hiện khắp vô-lượng sắc

Chẳng phải cảnh của tâm

Tất cả chẳng thấy được.

 

Dầu nghe tiếng Như-Lai

Âm-thinh chẳng phải Phật

Cũng chẳng ngoài âm-thinh

Biết được đấng Chánh-Giác.

 

Bồ-đề không lai khứ

Lìa tất cả phân-biệt

Thế nào ở trong đó

Tự nói là thấy được.

 

Chư Phật không có pháp

Phật chỗ nào có nói,

Chỉ theo tự-tâm chúng

Cho rằng Phật nói pháp.



BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)

 

 

Lạy đấng tam giới Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Nay con phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Hoa-Nghiêm

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát bồ-đề tâm

Khi mãn báo-thân này

Sanh qua cõi Cực-Lạc.




NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI

ÐẠI TỪ ÐẠI BI TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT



NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT


(1.080 CÂU)



 PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ số, đến quỳ trước bàn Phật, chắp tay niệm)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyện Ðịa-Tạng-vương Bồ-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đọc bài kệ phát nguyện hồi hướng)

 

Đệ tử chúng con, hiện là phàm phu, trong vòng sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân chuyển sáu đường, khổ không nói được. Nay gặp tri thức, được nghe danh hiệu, bản nguyện công đức, của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương chẳng bỏ, phóng quang nhiếp thọ. Đệ tử chúng con, chưa biết thân Phật, tướng tốt quang minh, nguyện Phật thị hiện, cho con được thấy. Lại thấy tướng mầu, Quán Âm Thế Chí, các chúng Bồ Tát và thế giới kia, thanh tịnh trang nghiêm, vẻ đẹp quang minh, xin đều thấy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngại,
A Di Đà đ
ến rước từ xa.
Quán Âm cam l
ồ rưới nơi đầu
Th
ế Chí kim đài trao đỡ gót.
Trong m
ột sát na lìa ngũ trược,
Kho
ảng tay co duỗi đến liên trì.
Khi hoa sen n
ở thấy Từ Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng tỏ.
Nghe xong li
ền CHỨNG Vô Sanh Nhẫn,
Không rời An Dưỡng lại Ta Bà.
Khéo đem ph
ương tiện lợi quần sanh
Hay l
ấy trần lao làm Phật sự,
Con nguy
ện như thế Phật chứng tri.
K
ết cuộc về sau được thành tựu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn giản, song đầy đủ tất cả ý nghĩa. Hành giả có thể đọc nguyện văn khác mà mình ưa thích, nhưng phải đúng với ý nghĩa phát nguyện hồi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, Pháp giới Tạng thân A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) 


 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)

  

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Vạn Đức đường thượng, từ Lâm Tế Gia Phổ, tứ thập nhất thế, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng TRÍ hạ TỊNH thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 

 

        Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG









NIỆM PHẬT


LỜI KHAI THỊ.- Tất cả pháp của Phật dạy đều có tông chỉ, y theo tông chỉ mà thực hành mới có kết quả. Tông chỉ của môn niệm Phật là TÍN, NGUYỆN và HẠNH.

 

Thế nào là TÍN ? - Tin chắc cõi Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm ở cách đây mười muôn ức Phật độ về phương Tây là chỗ mình nguyện sẽ về. Tin chắc nguyện lực của Phật A Di Đà, nhiếp thọ người niệm Phật văng sinh. Tin chắc mình niệm Phật đây quyết sẽ được vãng sinh về Cực Lạc thế giới ở bậc Bất thối chuyển Bồ Tát. Được như vậy gọi là TIN SÂU.


Thế nào là NGUYỆN ? - Mong mỏi được về Cực Lạc thế giới như viễn khách nhớ cố hương. Mong mỏi được ở gần Phật A Di Đà như con thơ nhớ từ mẫu, ngày ngày ngưỡng vọng Tây phương mà lòng mãi ngậm ngùi. Phút phút trông chờ Từ phụ mà mắt luôn trông ngóng. Nguyện rời cõi trược ác. Nguyện về Tịnh độ an lành. Nguyện thành Phật. Nguyện độ chúng sinh. Như trên đây gọi là NGUYỆN THIẾT.


Thế nào là HẠNH? - Dùng lòng tin và chí nguyện ở trên mà xưng niệm hồng danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm đều được cả miễn là khi niệm phải đủ bốn điều dưới đây mới gọi là thực hành đúng pháp.

 

1) RÀNH RÕ.- Rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo. Rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm rõ ràng không trại không mờ.

2) TƯƠNG ỨNG.- Tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

3) CHÍ THIẾT.- Chí thành tha thiết nhớ tưởng đến Phật. Như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.

4) NHIẾP TÂM.- Để tâm vào tiếng niệm Phật, không cho tạp niệm xen vào. Nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ lấy tiếng niệm Phật của minh.

 

Lòng tin sâu chắc và nguyện vọng tha thiết mà niệm Phật chuyên cần như trên, đó là NIỆM PHẬT ĐÚNG PHÁP. Niệm Phật đúng pháp rồi chí tâm hồi hướng cầu sinh, thời quyết định vãng sinh Tịnh độ Cực Lạc thế giới ở chung với chư Bồ Tát thượng thiện nhân, gần gũi Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và  Đại Thế Chí Bồ Tát, trụ bậc Bất thối chuyển, một đời sẽ thành Phật.


 

Kệ rằng :

 

Nam mô A Di Đà

Không gấp cũng không hưởn

(Hạ Thủ Công Phu)

Tâm tiếng hiệp khắn nhau                         

Thường niệm cho rành rõ

 

(Tương Ưng với Giới, Định, Huệ)

Nhiếp tâm là Định học

Nhận rõ chính Huệ học

Chánh niệm trừ vọng hoặc

Giới thể đồng thời đủ                        

 

Niệm lực được tương tục

Đúng nghĩa chấp trì danh

(Sự Nhất Tâm)

Nhất tâm Phật hiện tiền                         

Tam-muội sự thành tựu

 

Đương niệm tức vô niệm                           

Niệm tánh vốn tự không

Tâm làm Phật là Phật

(Lý nhất Tâm)

Chứng lý pháp thân hiện               


Nam mô A Di Đà

Nam mô A Di Đà

Cố gắng hết sức mình

(Phát Nguyện Vãng-sanh Cực-lạc)

Cầu đài sen thượng phẩm.      

 

 


MUỐN LÀM PHẬT THÌ “NIỆM-PHẬT”

(Giảng Giải Kinh Pháp Bảo Đàn - HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ-TỊNH)


 

Tâm Nguyện Của Dịch Giả

 

Trích cuối tập 9 Kinh Ðại-Bửu-Tích

 

…

Chư pháp hữu thân mến, cho phép tôi được dùng từ này để gọi tất cả các giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia, tôi có ý nguyện nhỏ, dầu nhỏ nhưng là từ đáy lòng thiết tha, muốn cùng các pháp hữu, tất cả các pháp hữu, những ai có đọc có tụng có nghe thấy những quyển kinh sách do tôi dịch soạn, sẽ là người bạn quyến thuộc thân thiết với tôi đời này và mãi mãi những đời sau, cùng nhau kết pháp duyên, cùng nhau dự pháp hội, cùng dìu dắt nhau, dìu dắt tôi để được vững bước mãi trên con đường đạo dài xa, con đường đạo nhiều trở ngại chông gai lồng giữa cõi đời thế tục mà lớp vỏ cứng của nó là tứ lưu bát nạn, cạm bẫy của nó là lợi danh ngũ dục, sức mạnh của nó là cơn lốc bát phong. Tôi chơn thành nói lên câu cần dìu dắt nhau. Vì vào giây phút mà tôi đang nguệch ngoạc ghi lại VÀI DÒNG NÀY, CHÍNH TÔI, PHẢI CHÍNH TÔI, KHÔNG DÁM ngửng mặt tự xưng là Tỳ Kheo chơn chánh, chỉ biết như thảo phú địa, nhứt tâm sám hối mười phương pháp giới.

 

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.

          Chùa Vạn Ðức

Ngày Trùng Cửu, Năm Kỷ Tỵ .

            (08-10-1989)

 

Thích Trí Tịnh

      Cẩn Chí




Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.






O = 10 X 108 = 1.080 


1.080 CÂU = 1 CHUỖI 108 MỚI GHI 1 ĐIỄM



Về cách trì niệm, Bút-giả lại phối hợp với môn Thiền của Ngài Trí Giả, khiến cho Thiền, Tịnh được dung hòa. Pháp thức này chia thành bốn giai đoạn đi từ cạn đến sâu:

 

1 – KÝ SỐ NIỆM: Hành giả lấy mười câu làm một đơn vị, niệm xong 10 câu lần một hột chuỗi. Người hơi dài có thể niệm suốt. Như hơi ngắn thì chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu. Cần phải niệm rành rẽ rõ ràng, nhiếp tâm lắng nghe, ghi nhớ từ 1 đến 10 câu. Vì còn sự ghi nhớ ấy, nên gọi là KÝ SỐ.

 

2 – CHỨNG SỐ NIỆM: Khi niệm đã thuần, thì không cần ghi nhớ từ 1 đến 10. Niệm đủ mười câu, liền tự biết một cách hồn nhiên. Đó gọi là CHỨNG SỐ. Lúc này tâm hành giả được tự tại hơn. Ý niệm càng chuyên nhứt.

 

3 – CHỈ QUÁN NIỆM: Lúc mới niệm, dứt tất cả tư tưởng phiền tạp, duy yên tĩnh lắng nghe, gọi là CHỈ. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm muốn hôn trầm, liền khởi ý niệm Phật tha thiết, tựa như con sa vào vòng tội khổ, gọi cha mẹ cứu vớt.  Sự khởi ý tưởng đến Phật đó, gọi là QUÁN. Hai cách nầy cứ thay đổi lẫn nhau, tán loạn dùng phép CHỈ, hôn trầm dùng phép QUÁN.

 

4 – TỊCH TĨNH NIỆM: Khi Chỉ Quán đã thuần, hôn trầm tán loạn tiêu tan, hành giả liền một niệm buông bỏ tất cả. Lúc ấy trong quên thân tâm, ngoài quên thế giới, đạo lý diệu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng trừ. Bấy giờ tâm niệm vắng lặng sáng suốt, chỉ còn hồn nhiên một câu niệm Phật mà thôi. Đến Giai-đoạn nầy Tịnh tức là Thiền, có niệm đồng với không niệm, tạm mệnh danh là TỊCH TĨNH NIỆM.

 

          Pháp thức niệm trên đây, sau nhiều năm bị chướng ngại trong lúc hành trì, Bút-giả đã suy tư nghiên cứu, vạch ra một đường lối để áp dụng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem lợi ích lại cho hàng liên hữu.



Có lời khen rằng:


Hạ bối căn non, kém hiểu biết,

Ngũ nghịch, thập ác, gây nhiều nghiệp

Phá giới, phạm trai, trộm của Tăng,

Không tin Ðại Thừa, báng Chánh Pháp.


Lâm chung tướng khổ hội như mây,

Ưng đọa A Tỳ vô lượng kiếp.

Thiện hữu khuyên xưng niệm Phật danh

Di Đà hóa hiện tay vàng tiếp.


Mười niệm khuynh tâm đến bảo trì,

Luân hồi từ ấy thoát trường kỳ.

Mười hai đại kiếp hoa sen nở

Đại nguyện theo với tiếng đại bi.



MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 

 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường

 


27. 

 

Nhứt cú Di Ðà
Nh
ứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuy
ệt đãi u linh.

 

Một câu A Di Ðà
Là m
ột Ðại Tạng Kinh
D
ọc, ngang giao chói sáng
Tuy
ệt đối, thể u linh.



Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:


Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ gi
ải thiên kinh không dịch hình!
Vô l
ượng nghĩa tâm toàn thể lộ
L
ưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.


Bài k
ệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!


Câu ni
ệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!

 

VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm


Comments

Popular posts from this blog